Vietnam FOSS community

See my speech at 10′:15” 🙂

 

Định dạng chuẩn video mở WebM

TTO – Hiện nay, để duyệt video và nội dung đa phương tiện trên web nói chung, các nhà phát triển dịch vụ và người dùng cuối chủ yếu dùng nền tảng Flash. Tuy đang chiếm lĩnh phần lớn thị phần nhưng công nghệ này cồng kềnh và trở thành đích ngắm của tin tặc khai thác lỗi.

Các chuẩn web mới ra đời là điều tất yếu, trong đó, VP8 với định dạng WebM đang được xem là sự lựa chọn thay thế hàng đầu ngày nay khi đại gia “chống lưng” chính là Google.

Phần thắng giữa HTML5 và Flash vẫn nghiêng về sản phẩm của Adobe, nhưng VP8 và WebM sẽ thay đổi cán cân này

Trong vòng 5 năm trở lại đây, cùng với sự lên ngôi của các dịch vụ video trực tuyến, nổi bật là Youtube, Flash trở thành sự lựa chọn số một với định dạng video nhỏ gọn FLV, có thể hoạt động trên hầu hết các môi trường hệ thống hay thiết bị với điều kiện duy nhất là cài đặt plug-in Flash Player hoàn toàn miễn phí.

Khi iPad ra đời, một điều khá ngạc nhiên là Apple không hề mặn mà với chuyện hỗ trợ Flash, do đó không thể xem được Youtube trực tiếp trên trình duyệt. Câu trả lời chính là Apple hướng tới chuẩn web mới HTML5, hứa hẹn sẽ phổ biến trong nay mai. Người dùng không còn gặp trở ngại với việc có cài Flash Player hay không. Tất cả những gì họ cần biết là kết nối mạng, tìm các nhà cung cấp nội dung qua chuẩn HTML5 và duyệt video.

Các tùy chọn sẵn sàng trên trình duyệt thế hệ mới cùng HTML5

HTML5 đấu cùng Flash

Ở thời điểm hiện tại, trình duyệt không cài Adobe Flash Player bị coi là “què quặt”.

Xét về mặt bản chất, HTML5 không “đối kháng” với Flash. HTML 5 là nền tảng, chuẩn mới cho phép các nhà cung cấp dịch vụ mang nội dung, sản phẩm của mình tới tay người dùng mà không cần phải lệ thuộc vào Flash hay các phụ kiện khác. Sự xuất hiện của thẻ lệnh <video>, có thể sẽ là một cuộc cách mạng cho các trang web bị chê là kém hoạt năng, tĩnh, chán ngắt với chữ (text) và hình ảnh xây dựng trên nền tảng HTML.

HTM5 giúp video trở thành một thành phần tương tự như ảnh hay chữ, do đó, chúng dễ dàng được các cỗ máy tìm kiếm nhận diện.

Bắt đầu từ cách đây gần 6 năm nhưng HTML5 vẫn chỉ là một ý tưởng thuần túy, khi thực tế triển khai gặp không ít khó khăn vì thiếu codec (mã) hỗ trợ, các trình duyệt chưa sẵn sàng. Mãi gần đây, các ông lớn như Apple, Mozilla, Google, Opera và Microsoft mới bắt đầu tung ra các phiên bản trình duyệt mới hỗ trợ HTML5.

Tiềm năng nhưng trước mắt, HTML5 chưa thể nhanh chóng đánh bại Flash hiện có mặt trên 95% PC toàn cầu. Vì thế, có người ví HTML5 như chàng hiệp sĩ đang “đánh nhau với cối xay gió”.

Thưởng thức Youtube 720p và trải nghiệm định dạng tối ưu WebM sẽ không còn là điều xa lạ trong tương lai

Mở mã, WebM sẽ lên ngôi?

Tuy vậy, mọi chuyện đang bắt đầu thay thổi, với sự có mặt của VP8, một chuẩn codec mơ ước đáp ứng được hai tiêu chí miễn phí và chất lượng hoàn hảo.

Lâu nay, mỗi định dạng video thường chỉ hoạt động với một số thuật toán codec riêng, nổi bật có H.263, H.264, Theora và VP8. Flash có định dạng FLV sử dụng H.263, trong khi Flash VP6 chỉ “chơi” với VP6.

Để chuyển phát video, HTML5 phải sử dụng các codec nhất định, trong khi các nhà sản xuất trình duyệt vẫn chưa thống nhất sẽ chọn codec nào. IE của Microsoft và Safari hứa hẹn sẽ hỗ trợ HTML5 với chuẩn H.264 (codec đóng của MPEG-LA có phí sử dụng rất cao, mặc dù được xem là có chất lượng tốt nhất hiện nay). Firefox và Opera chọn Theora, một codec mã mở. Riêng Chrome thỏa mãn cả hai loại codec H.264 và Theora.

Chính sự chia rẽ giữa các nhà sản xuất trình duyệt và khó khăn trước giá cả quá đắt khi sử dụng mã đóng chuẩn codec H.264 đã làm cho HTML5 giậm chân tại chỗ.

WebM, định dạng video mới dựa trên chuẩn VP8 chính là câu trả lời.

WebM viết tắt của Web Media, hứa hẹn sẽ thay thế FLV trong nay mai nhờ chất lượng video rất tốt, dung lượng nhỏ gọn, thuận tiện cho việc phát qua web. Youtube khi phát clip chuẩn 720p sẽ sử dụng định dạng WebM.

VP8 là codec video mới xuất hiện trên thị trường, do On2 phát triển, thay thế các thế hệ VP6, VP7 trước đó. Khi so sánh VP8 với H.264, người ta không thấy sự khác biệt về chất lượng, đồng thời VP8 tỏ ra vượt trội khi định dạng tập tin nhỏ hơn rất nhiều lần.

Đến khi Google quan tâm tới VP8 bằng việc mua lại On2, VP8 bắt đầu trở thành đề tài nóng. Tháng 5-2010, một chuyện được xem là “động trời” với HTML5, khi Google mở mã VP8, miễn phí sử dụng, cùng với định dạng mới WebM và dự án www.webmproject.org.

Với WebM, người dùng cuối không cần quan tâm tới các Plugin hay cài các codec khác, khi sử dụng chế độ mã hóa video theo chuẩn VP8 và audio theo Vorbis (mã mở). Điều quan trọng hơn, các trình duyệt thế hệ mới như Mozilla Firefox, Opera, Google Chrome và IE9 đều sẵn sàng hỗ trợ, trong khi Safari cũng hỗ trợ bất kì codec nào cài vào QuickTime và tương lai cũng sẽ cho phép WebM.

Epiphany đã bắt đầu hỗ trợ WebM thông qua nền tảng Gstreamer. Các trình phát đa phương tiện như VLC, Miro, Moovida, Winamp, Mplayer cũng đã sẵn sàng hỗ trợ. Nhóm phát triển Ffmpeg cũng nhanh chân hỗ trợ VP8. Theo thống kê, hiện có đến gần 50 đối tác, nền tảng đã sẵn sàng với WebM và VP8, trong đó có Android (công bố vào quý 4 – 2010), AMD, ARM, Broadcom, Intel, Qualcomm, NVIDIA, Sorenson Media, Logitech

Chỉ còn chờ thời gian, cuộc chiến sống còn giữa WebM cùng VP8 đối đầu với Flash!

Theo: TTO

Open Source Characteristics

While open source and proprietary software are similar in one respect—they are both copyrighted intellectual property licensed under certain conditions to users—they differ in many others; these differences make open source particularly useful and appealing to IT organizations. These are the most relevant open source characteristics for enterprise IT organizations:

Expansive licensing: Proprietary software licenses are usually quite restrictive in terms of use—limits on number of users, type or number of machines the software may be installed on, and, of course, there is usually a fee associated with obtaining a license. By contrast, open source has very expansive license conditions that encourage widespread use. Open source licenses impose no limitations on number of users or type or number of machines that may have the software installed. And, of course, there are no license fees associated with open source software. Commercial entities may offer for-fee services, but these are not required in order to access the software itself, and are not a licensing condition.

Development transparency: Open source development is carried out in the open. In most cases, product decisions are discussed extensively on mailing lists or in forums. All code may be examined. Reported bugs are listed and available for inspection. The development process itself is carried out in public, with all code check-ins also available for inspection. It is easy for a software user to ascertain the current state and history of an open source product. Users can easily communicate with product developers to understand their product decisions and offer opinions about the product’s functionality or direction.

Ability to inspect source code: It is often extremely helpful to review the source code of a product to enable better integration with another product or merely to better understand how the product operates so as to ease use in production. Because open source licenses mandate source code availability, it is easy to study the product’s code and learn from it.

Ability to modify source code: Not only is open source code available for inspection, licenses also allow users to modify the source code. Anyone can add new functionality that better meets user needs. Furthermore, the code can be “contributed” back to the mainstream code base, which means that code modifications are automatically carried forward in subsequent releases, thereby reducing downstream maintenance efforts.

Community: One of the most important characteristics of open source, and the foundation for successful open source projects, is community. Community is the combined pool of product developers and users; in essence, everyone concerned with a product. Free and honest communication is typical of community, with many peer user interactions typical of a vibrant community. Users can easily share their thoughts about the product with developers, leading to improved functionality and ease of use. The community also enables “corner case” use cases (i.e., unusual product applications that only a subset of users confront) to be exercised, with feedback about product capability in corner-case conditions directly fed back to developers. Finally, community allows peers to help one another solve problems, offering quick support and knowledge sharing. Community is often an unfamiliar (and uncomfortable) concept for new open source users from the business world, but, once experienced, is viewed as one of the defining strengths of open source software.

Redistribution rights: Open source licenses allow users (recipients of open source products) to distribute open source products to third-parties as part of the license conditions, without requiring permission from the original product distributor; this is referred to as redistribution. Redistribution can be of the original form of the product, or a modified form that contains code modified by the original code recipient. Redistribution enables community growth and also allows product users to create innovative business offerings without having to signal intention to product creators via a redistribution request.

Each of these characteristics is a valuable part of the overall open source license conditions. If an enterprise is using open source to pursue a particular business goal, it will find one or more of the characteristics particularly important, indicating what it should emphasize in its open source efforts.

It is important for IT organizations to understand these characteristics, as they will assist (or limit) the organization’s ability to best take advantage of open source software. For example, if a company is just beginning to use a given open source product, it will heavily rely on the product’s community for help in the early stages of installation and configuration as well as getting the product to operate properly. Community, a core open source characteristic, can accelerate the realization of benefits to a company. By contrast, some open source licenses require that user-modified source code (a derivative work based on the original product) be licensed under the same license as the original product. This clearly limits the ability of companies to create proprietary products from previously open source-licensed ones. So it is important for an IT organization to understand these characteristics and to recognize which of them is most relevant to the goals it’s pursuing with its open source use.

Phát triển phần mềm mã nguồn mở: Cần vượt qua nhiều rào cản

Xây dựng và triển khai các ứng dụng phần mềm mã nguồn mở (PMMNM) hiện đang được coi là một trong những giải pháp tối ưu giúp giảm thiểu tối đa kinh phí bản quyền, đặc biệt là bản quyền đối với hệ điều hành, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, môi trường phát triển phần mềm. Phần mềm nguồn mở sẽ giúp khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp CNTT trong nước phát triển sản phẩm của mình, từng bước tham gia vào thị trường phần mềm ở khu vực và trên thế giới…

Nhiều kỳ vọng là vậy, song dường như, cho tới thời điểm này, việc phát triển PMMNM tại Việt Nam vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn.

“Xài” PMMNM, nhiều băn khoăn

Nếu xét ở khía cạnh giấy phép sử dụng, PMMNM được hiểu là tự do sử dụng, tự do sửa đổi, cải tiến và tự do phát hành. Còn xét trên khía cạnh phát triển, PMMNM mang “tính mở” và sự tương tác rộng trong quá trình phát triển phần mềm.

Phải thừa nhận, việc xây dựng và triển khai các ứng dụng PMMNM hiện đang được coi là một trong những giải pháp tối ưu giúp giảm thiểu tối đa kinh phí bản quyền, đặc biệt là bản quyền đối với hệ điều hành, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, môi trường phát triển phần mềm. Phần mềm nguồn mở sẽ giúp khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp CNTT trong nước phát triển sản phẩm của mình, từng bước tham gia vào thị trường phần mềm ở khu vực và trên thế giới…

Theo ông Trương Anh Tuấn, Phó Giám đốc công ty cổ phần Giải pháp thông tin iWay, cho tới thời điểm này, người dùng, cộng đồng cũng như doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều băn khoăn, nghi ngại khi sử dụng phần mềm nguồn mở dù đó là những băn khoăn không thực sự.

Nhiều người vẫn cho rằng PMMNM không đáng tin cậy hoặc không được hỗ trợ tốt. Rồi các công ty, doanh nghiệp lớn hiện nay vẫn không mặn mà gì với PMMNM. Các PMMNM hiện đang phải đối đầu với vấn đề sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, PMMNM cũng liên quan tới vấn đề bản quyền. Phần lớn các khía cạnh trong phần mềm nguồn mở liên quan đến “sự mở” cũng như quá trình phát triển cộng tác. Phần mềm tự do nguồn mở không tạo ra tiền… Tại Hội thảo quốc gia lần 5 về PMMNM vừa qua, ông Tuấn và nhiều đại biểu cũng đã có những giải toả về những băn khoăn này.

Còn với ông Vũ Duy Lợi, giám đốc Trung tâm Tin học Văn phòng Trung ương Đảng, các vấn đề cần quan tâm khi ra quyết định và triển khai ứng dụng PMMNM trong khuôn khổ Đề án tin học hoá hoạt động của cơ quan Đảng đó là các vấn đề về nghiệp vụ, công nghệ, tổ chức thực hiện và quản lý, vận hành, khai thác.

Theo ông Lợi, sử dụng PMMNM cho phép giảm thiểu tối đa kinh phí bản quyền, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nhà sản xuất và cung cấp phần mềm ứng dụng nước ngoài ít nhất là trong thời điểm hiện tại và trong tương lai gần, cho phép chủ động mở rộng, nâng cấp các chức năng đã có, bổ sung các chức năng mới… Song bên cạnh đó, ứng dụng này không phải là không đặt ra những vấn đề về công nghệ. Đó không chỉ là khả năng làm chủ công nghệ phần mềm nguồn mở, bao gồm hệ điều hành, công cụ và môi trường phát triển … mà quan trọng hơn cả là khả năng làm chủ phương pháp luận phân tích, thiết kế các hệ thống phần mềm ứng dụng.

Ngoài ra, việc xác định đúng phạm vụ ứng dụng phần mềm nguồn mở cho phù hợp với trình độ làm chủ công nghệ cũng đóng một vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của việc ứng dụng phần mềm nguồn mở. Chính vì vậy, việc triển khai ứng dụng phần mềm nguồn mở của Việt Nam không thể triển khai ồ ạt với hy vọng mang lại lợi ích ngay trong một sớm, một chiều. Điều này được lý giải bởi trình độ ứng dụng thấp và năng lực cán bộ kỹ thuật còn hạn chế. Theo ông Lợi, việc chuyển sang ứng dụng phần mềm nguồn mở cần được tiến hành từng bước, bảo đảm các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ được liên tục không bị gián đoạn.

Để phát triển, hướng nào?

Hiện giờ Việt Nam cũng đã có một số PMMNM đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong các cơ quan nhà nước đã được ứng dụng rộng rãi như phần mềm Openoffice, phần mềm thư điện tử máy trạm Thunderbird, phần mềm trình duyệt Web MozillaFirefox, phần mềm bộ gõ tiếng Việt Unikey.

Theo ông Nguyễn Trọng Đường, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp CNTT Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan quản lý nhà nước cũng đã ban hành một số cơ chế chính sách về PMMNM như ưu tiên sử dụng trong các dự án CNTT dùng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn có nguồn gối từ ngân sách nhà nước; đầu tư nghiên cứu, phát triển và khuyến khích sử dụng một số sản phẩm PMMNM trọng điểm có khả năng thay thế phần mềm thương mại và các ứng dụng, tiện ích trên PMMNM; hỗ trợ thúc đẩy, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực làm PMMNM và các cộng đồng phần mềm nguồn mở của Việt Nam…

Ông Đường cũng phải thừa nhận rằng, chính sách nói chung và chính sách về PMMNM nói riêng là một vấn đề phức tạp, liên quan đến rất nhiều vấn đề như cơ chế chính sách dầu tư, tài chính, quản lý dự án, chuyển giao công nghệ, đào tạo… Bởi vậy, lộ trình chuyển sang sử dụng phần mềm nguồn mở cần được xác định phù hợp với yêu cầu ứng dụng, trình độ làm chủ công nghệ và việc thay đổi thói quen người sử dụng.

Song song với đó, bản thân các bộ, ngành cũng phải vào cuộc bằng những giải pháp cụ thể để làm sao vừa dùng phần mềm có bản quyền đồng thời tiết kiệm trong mua sắm phần mềm bằng kế hoạch triển khai đưa PMMNM vào sử dụng. Cần phải có kế hoạch thu hút đầu tư và huy động nguồn vốn phát triển PMMNM cũng như phát triển mạnh nguồn nhân lực làm về PMMNM…

Nếu như những giải pháp về phát triển PMMNM trên được triển khai một cách đồng bộ, tin rằng sẽ đem lại hiệu quả như mong muốn. Song vẫn phải khẳng định lại: Một điều chắc chắn là, phần mềm nguồn mở và phần mềm nguồn đóng sẽ cùng tồn tại để bổ sung những điểm mạnh cho nhau, khắc phục khiếm khuyết cho nhau tạo thành nền tảng cho việc phát triển và triển khai thực tế các hệ thống phần mềm ứng dụng nhằm đạt mục tiêu cao nhất là khả thi, thiết thực và hiệu quả.

Thuỷ Nguyên

Nguồn VnMedia

Gartner Says as Number of Business Processes Using Open-Source Software Increases, Companies Must Adopt and Enforce an OSS Policy

STAMFORD, Conn., November 17, 2008

Adoption of open-source software (OSS) is becoming pervasive, with 85 percent of companies surveyed currently using OSS in their enterprises and the remaining 15 percent expecting to in the next 12 months, according to Gartner, Inc.

The Gartner survey was conducted in May and June 2008 and included 274 end-user organizations across various countries and markets in Asia/Pacific, Europe and North America. Respondents were evenly distributed across manufacturing, education, financial services and service companies and included a cross section of small, medium and large organizations. The survey was targeted at end users and excluded software vendors and external service providers (ESPs).

Gartner found that 69 percent of companies surveyed still have no formal policy for evaluating and cataloguing OSS usage in their enterprise, opening up huge potential liabilities for intellectual-property violations.

“Just because something is free doesn’t mean that it has no cost,” said Laurie Wurster, research director at Gartner. “Companies must have a policy for procuring OSS, deciding which applications will be supported by OSS, and identifying the intellectual property risk or supportability risk associated with using OSS. Once a policy is in place, then there must be a governance process to enforce it.”

The Gartner survey results indicate that OSS in new projects is being deployed nearly equally in mission-critical and non-mission-critical situations. Although the adoption rate is higher for the more mature infrastructure OSS projects and components, more projects related to application software are in progress and are planned to start within the next 12 months.

Of the large number of application software projects, respondents indicated a higher rate of using OSS as a replacement for commercially available products while using mostly OSS components for their infrastructure development. In areas where OSS projects are most mature, IT departments appear comfortable with using OSS components to enhance existing infrastructure environments. However, in the less mature areas of application software, OSS is more readily used as a replacement for commercially available software, probably because of the cost and sophistication level required to customize many application products.

When respondents were asked to select the top three most important reasons for using OSS, they consistently said that lower total cost of ownership (TCO) and reduction in development of cost-prohibitive factors were major factors for selecting OSS. Another strong reason for using OSS was that it makes it somewhat easier to embark on new IT projects or software initiatives.

Some respondents indicated that they also use OSS as investment protection against a single vendor “owning” the entire IT department. Others said that the major business reason for using OSS projects and components was faster time to market, which better positions them to meet the unique demands and requirements of internal and external customers and, in many cases, provides them with the ability to avoid complex procurement rules and procedures.

Governance, or the lack of it, was the No. 1 challenge for OSS users in the survey, followed by conflicting terms and conditions and the availability of too many license types and forms.

“Understanding when and how an OSS alternative may be used is a frustrating process, especially when there are so many license types and forms from which to choose,” said Ms. Wurster. “As time goes by, many of these concerns will be addressed, but this continues to be a slow process. Increases in OSS popularity and in the rate of OSS adoption will drive the required changes.”

Customer service continues to be the leading business process for which OSS projects are used, followed closely by enterprise integration, finance and administration, and business analytics. Sales and marketing, customer analytics, field service, ERP and CRM solutions are also moving up the adoption ramp, further increasing the influence of OSS in many enterprises.

Additional information is in the Gartner report “User Survey Analysis: Open-Source Software, Worldwide, 2008”. The report is available on Gartner’s Website at http://www.gartner.com/DisplayDocument?ref=g_search&id=757916&subref=simplesearch.

Contacts:

Christy Pettey
Gartner
+1 408 468 8312
christy.pettey@gartner.com

Holly Stevens
Gartner
+44 0 1784 267412
holly.stevens@gartner.com

About Gartner:
Gartner, Inc. (NYSE: IT) is the world’s leading information technology research and advisory company. Gartner delivers the technology-related insight necessary for its clients to make the right decisions, every day. From CIOs and senior IT leaders in corporations and government agencies, to business leaders in high-tech and telecom enterprises and professional services firms, to technology investors, Gartner is the indispensable partner to 60,000 clients in 10,000 distinct organizations. Through the resources of Gartner Research, Gartner Consulting and Gartner Events, Gartner works with every client to research, analyze and interpret the business of IT within the context of their individual role. Founded in 1979, Gartner is headquartered in Stamford, Connecticut, U.S.A., and has 4,000 associates, including 1,200 research analysts and consultants in 80 countries. For more information, visit www.gartner.com.

Microsoft: ‘ODF rõ ràng đã chiến thắng’

Chuyên gia công nghệ Stuart McKee của tập đoàn phần mềm Mỹ thừa nhận ưu thế của định dạng tài liệu mở và có phần áy náy vì đã không hỗ trợ chuẩn này trong Office 2007 sớm hơn.

“Chúng tôi tồn tại nhờ vào việc kinh doanh phần mềm. Chúng tôi chưa thể triển khai ODF trong quá trình phát hành Office 2007, nhưng cam kết sẽ xây dựng một sản phẩm không đơn giản chỉ đóng vai trò phiên dịch giữa ODF và OOXML”, McKee nói.

ODF (Open Document Format) trở thành chuẩn ISO từ cách đây 2 năm trong khi OOXML (Open Office XML) của Microsoft mới được Tổ chức chuẩn quốc tế thông qua hồi tháng 4. Một vài công ty như IBM và Sun cho rằng OOXML quá độc quyền để được coi là một chuẩn.

“Microsoft tham gia vào cuộc đua quá muộn và thật khó để tiến hành những cuộc đàm phán trên toàn thế giới khi mọi thứ đã an bài”, McKee thừa nhận thành công của ODF.

Microsoft sẽ hỗ trợ định dạng tài liệu mã mở trong gói Office vào năm tới, nhưng khả năng OOXML và ODF sẽ hợp nhất thành một chuẩn chung là điều khó có thể xảy ra.

Xem bài đầy đủ bằng tiếng Anh tại:

http://www.infoworld.com/article/08/06/19/Red_Hat_Summit_panel_Who_won_OOXML_battle_1.html

(theo InfoWorld)