Tỷ phú Carlos Slim – một tài năng bẩm sinh

Work and Life March 12th, 2010

Tỷ phú Carlos Slim. Ảnh: Forbes.

Carlos Slim người Mexico vừa soán ngôi giàu nhất thế giới với khối tài sản 53,5 tỷ USD. Reuters có bài viết giới thiệu chân dung ông dưới đây.

Người đàn ông giàu nhất thế giới Carlos Slim đã thể hiện tài năng kinh doanh ngay từ lúc là một cậu bé 10 tuổi, khi ông nhét đầy túi những đồng peso kiếm được nhờ bán đồ uống và đồ ăn nhẹ.

Ở tuổi thiếu niên, cậu tiếp tục ghi chép và tính toán những món chi tiêu cũng như khoản tiền kiếm được; mua trái phiếu chính phủ để từ đó học được bài học về lãi suất.

Hơn nửa thế kỷ sau, tỷ phú Slim 70 tuổi với khối tài sản trị giá 53,5 tỷ USD đã đánh bại nhà sáng lập Microsoft Bill Gates để trở thành người đứng đầu danh sách những cá nhân giàu có nhất thế giới, do tạp chí Forbes công bố hôm qua.

Đế chế kinh doanh rộng lớn của ông bao gồm những cửa hàng nổi tiếng nhất, công ty viễn thông lớn nhất, nhiều khách sạn, nhà hàng, công ty khoan dầu, xây dựng và ngân hàng Inbursa của Mexico. Người ta khó có thể trải qua một ngày ở Mexico mà không trả ông ít tiền nào.

Bên ngoài nước, Slim có cổ phần ở nhiều tập đoàn danh tiếng như hãng bán lẻ Sak và New York Times Co.

Sự nghiệp của ông bắt đầu phát triển mạnh vào năm 1990, khi ông và các đối tác mua công ty điện thoại quốc doanh đang khật khừ Telmex với giá 1,7 tỷ USD. Slim biến nó thành một cỗ máy kiếm tiền hàng đầu, rồi từ đó ông xây dựng nên America Movil, mở rộng không ngừng thông qua các thương vụ sáp nhập để biến nó thành hãng điều hành viễn thông không dây lớn thứ tư thế giới.

Trong khi những người không ưa chỉ trích Slim lợi dụng tình trạng độc quyền để làm giàu, Slim có một triết lý đơn giản về chuyện kiếm tiền.

“Sự giàu có giống nwh một vườn cây ăn quả”, ông từng nói với Reuters năm 2007. “Với cái vườn ấy, việc anh phải làm là làm cho nó lớn lên, đầu tư cho nó rộng ra, mở rộng sang những khu khác nữa”.

Với hình ảnh quen thuộc là điếu xì gà trên môi, Slim đi mua những công ty đang làm ăn khó khăn và biến chúng thành những con bò sữa.

Năm 2008, ông mua một ít cổ phần của New York Times khi giá cổ phiếu hãng này tụt dốc. Giờ đây, từ 250 triệu USD ông cho nhà xuất bản này vay, Slim đã có thể kiếm 80 triệu và có 16% cổ phần. Tuy nhiên Slim vẫn nói ông không có ý muốn trở thành một ông trùm truyền thông Mỹ.

Tuy nhiên khoản đầu tư này của Slim khiến nhiều người trong giới truyền thông ở New York lo ngại. Các nhà đầu tư thì đoán rằng ông có thể dấn thêm bước nữa trong việc mua Times; còn trùm truyền thông Rupert Murdoch nói ông nghi ngờ khả năng ban lãnh đạo hãng này nhường quyền kiểm soát cho người ngoài gia đình, nhất là người nước ngoài.

Lối sống căn cơ

Slim được học bài học đầu tiên về kinh doanh từ cha mình, ông Julian Slim Haddad, một người Li băng di cư đến Mexico đầu những năm 1900 và mở cửa hàng bách hóa “Ngôi sao phương Đông”. Slim cha đã mua những tài sản có giá rẻ trong thời gian xảy ra cuộc Cách mạng Mexico.

Năm 1987, khi giá cổ phiếu lao dốc trong một trong những cuộc khủng hoảng ở Mexico, Slim nhận thấy cơ hội trong khi những người khác lo sợ, ông đã mua nhiều cổ phiếu giá thấp và bán chúng đi khi kinh tế hồi phục.

“Chúng tôi biết rằng những cuộc khủng hoảng chỉ là tạm thời, không thể có con quỷ nào sống đến 100 năm”, Slim từng nói. “Khi khủng hoảng xảy ra, có những sự đánh giá này nọ, có sự hoảng loạn, và nhiều tài sản bị định giá thấp”.

Khối tài sản khổng lồ của Slim không khiến ông từ bỏ lối sống giản dị. Ông vẫn sống trong ngôi nhà đã sống 40 năm nay và lái một chiếc Mercedes Benz cũ kỹ. Chiếc xe này được bọc thép và được các vệ sinh canh giữ cẩn thận. Ông không hề dùng chuyên cơ đắt tiền, du thuyền hay những thứ đồ xa xỉ mà tầng lớp thượng lưu Mexico vẫn ham chuộng.

Con đường làm giàu

Chàng thanh niên Slim, sau khi tốt nghiệp kỹ sư, đã lập ra một công ty bất động sản và làm việc cho thị trường chứng khoán Mexico. Khi đã có trong tay một ít vốn, anh mở công ty môi giới vào giữa thập niên 60 và trong một thập kỷ sau đó mua các công ty đang làm ăn thua lỗ, trong đó có một hãng thuốc lá. Ông mua một cửa hàng bách hóa và cà phê, một công ty khai mỏ và một vài hãng sản xuất dây cáp và lốp xe.

Năm 1990, Slim dùng tài sản có được để hùn cùng với đốc tác mua công ty Telmex rồi từ đó mở rộng đế chế viễn thông. Hãng America Movil của ông hiện giờ có 201 triệu khách hàng trải dài từ Brazil đến Mỹ.

Slim trao quyền điều hành công việc hàng ngày ở hãng cho ba người con trai và những đối tác kinh doanh thân cận, nhưng ông vẫn chứng tỏ là người cầm cương, chịu trách nhiệm chính mỗi khi xuất hiện cùng họ trước giới truyền thông.

Slim đã bắt đầu tham gia vào sự nghiệp chống đói nghèo, mù chữ và tình trạng y tế lạc hậu ở châu Mỹ Latinh; đẩy mạnh các dự án thể thao dành cho người nghèo. Tuy nhiên ông chưa từng đề cập đến những kế hoạch chuyển một phần tài sản của mình cho các quỹ từ thiện như Bill Gates hay Warren Buffett đã làm.

Slim nói rằng các doanh nhân làm nhiều điều tốt cho xã hội bằng cách tạo ra việc làm và sự thịnh vượng thông qua các khoản đầu tư của họ, chứ “không cần phải làm ông già Noel”.

Thanh Mai – VnExpress

Internet 2009 qua những con số

Work and Life January 25th, 2010

Ai cũng biết thế giới Internet giờ đây đã rất lớn nhưng nó lớn đến thế nào? Điều gì đã xảy ra trong thế giới ấy trong năm 2009?

Thông qua những con số tổng hợp từ rất nhiều công cụ, dịch vụ theo dõi môi trường web trong năm qua, bạn có thể tưởng tượng được phần nào diện mạo của thế giới Internet. Nhưng xin nói trước là có những con số rất dài và bạn hãy chuẩn bị tinh thần của sự “quá tải” thông tin.

Email

90.000 tỉ là số email đã được gửi đi trên toàn cầu trong năm 2009.

247 tỉ – số email trung bình trong một ngày

1,4 tỉ – số người sử dụng email trên thế giới

100 triệu - số người mới sử dụng email trong năm 2009 so với năm trước.

81% - tỉ lệ thư rác trong tổng số email của năm 2009.

92% – tỉ lệ đỉnh điểm của thư rác trong tổng email toàn cầu.

24% – tỉ lệ tăng trưởng của thư rác so với năm trước

200 tỉ – số thư rác trung bình được gửi mỗi ngày trên toàn cầu.

Website

234 triệu - số lượng website đang tồn tại trên khắp thế giới tính đến ngày 31-12-2009

47 triệu - số website mới ra đời trong năm 2009.

Máy chủ web

Máy chủ web

13,9% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Apache.

-22,1% (âm) - tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ IIS.

35,0% - tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Google GFE.

384,4% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Nginx.

-72,4% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Lighttpd.

Tên miền

81,8 triệu tên miền .COM tính đến hết năm 2009

12,3 triệu tên miền .NET

7,8 triệu tên miền .ORG.

76,3 triệu tên miền cấp 1 quốc gia (ví dụ .VN, .UK, .DE…).

8% – tốc độ tăng trưởng tên miền so với năm 2008.

Người sử dụng Internet

1,73 tỉ  – số người sử dụng Internet toàn cầu (số liệu tính đến tháng 9-2009).

18% – tỉ lệ tăng trưởng của số người dùng Internet so với năm trước.

Trong đó:

- Châu Á có 738.257.230 người

- Châu Âu có 418.029.796 người

- Bắc Mỹ: 252.908.000 người

- Mỹ Latin – Caribê: 179.031.479 người

- Châu Phi: 67.371.700  người

- Trung Đông: 57.425.046 người

- Châu Đại Dương và Úc: 20.970.490 người

Internet trong từng lĩnh vực

Truyền thông xã hội – Social media

126 triệu - số blog đang tồn tại trên Internet

84% - tỉ lệ mạng xã hội có thành viên nữ đông hơn nam

27,3 triệu - số lượng tweet mỗi ngày (tính đến tháng 11-2009)

57% - người dùng Twitter là người Mỹ.

4,25 triệu - số người theo đuôi @aplusk (tài khoản của nam diễn viên người Mỹ Ashton Kutcher, tài khoản có số người theo đuôi lớn nhất trên Twitter).

350 triệu – số thành viên của Facebook

50% số người sử dụng Facebook đăng nhập ít nhất 1 laanf/ ngày.

500.000 – số ứng dụng đang hoạt động trên Facebook

Hình ảnh

4 tỉ bức ảnh đang được lưu trữ trên Flickr (dịch vụ lưu trữ và chia sẻ ảnh trực tuyến của Yahoo, số liệu tính đến tháng 10-2009).

2,5 tỉ – số bức ảnh được tải lên Facebook mỗi tháng.

30 tỉ – số bức ảnh được tải lên Facebook trung bình hằng năm.

Video

1 tỉ – tổng số lượt xem video mỗi ngày trên YouTube

12,2 tỉ – số đoạn video người dân Mỹ xem trên YouTube mỗi tháng (tính đến tháng 11-2009)

924 triệu – số video người dân Mỹ xem trên Hulu mỗi tháng (tính đến hết tháng 11-2009).

182 - số video trung bình một người dùng Internet tại Mỹ xem mỗi tháng.

82% người dùng Internet Mỹ xem video trực tuyến

39,4% - thị phần video trực tuyến của YouTube tại Mỹ

81,9% số video được nhúng trong các blog là của YouTube.

Trình duyệt web

Biểu đồ thị trường trình duyệt web

Phần mềm độc hại

148.000 - số máy tính “ma” ra đời mỗi ngày (bị sử dụng trong các mạng botnet, gửi thư rác…).

2,6 triệu - tổng số mã độc tồn tại trong đầu năm 2009 (virus, trojan, rootkit, malware…).

921.143 - Số mã độc mới được Symantec nhận diện trong quý 4-2009.

Theo Tuổi trẻ / ICTNews

Asterisk VOIP with Nokia E63 How-To

Work and Life December 23rd, 2009

Getting the E63 connected to Asterisk was a bit trying at first, since the included VOIP client seems to be tailored to a Nokia VOIP solution. With some trial and error, then some googling, I was able to get it working, and now my E63 is not only a cellphone with uber connectivity options, but also doubles as an extension of my office PBX! What is most impressive about this setup is that the phone “knows” when it is at the office and automatically switches on the VOIP client and allows the phone to call or receive calls through the PBX, thereby saving valuable minutes while at the office.

Here’s how I got the NOKIA E63 to act as a VOIP client on my office PBX.

First, open the Menu -> Tools -> Settings -> Connection settings. In there, you will see an item that says “SIP Settings”

Once in the SIP settings, you’ll be able to enter the configuration options for your SIP extension on your PBX. First, create a SIP Profile and then enter the SIP account info in the new SIP profile.

The options one can enter here are:

  • Profile Name (specify whatever you wish)
  • Service Profile (should be IETF)
  • Default Access Point (I used the wifi access point in my office SSID iWay)
  • Public User Name (Here specify as ext@pbx.hostname) ie. 200@asterisk.iwayvietnam.com if 200 is your SIP extension account
  • Use Compression (set this to NO)
  • Registration (set to Always On)
  • Use Security (I selected NO)

The last 2 items are for entering the proxy and registrar servers (basically the account info and address of your PBX for both incoming and outgoing channels).

For the Proxy server submenu please enter the following information:

  • Proxy Server Address (this should be the FQDN or IP address of your PBX) in my example, it was asterisk.iwayvietnam.com
  • Realm (If you are using Asterisk as your PBX set this to the word “asterisk”)
  • User Name (set this to JUST your extension number, I used 200)
  • Password (this is case sensitive, enter exactly as it is in the Asterisk GUI manager for the SIP account)
  • Allow Loose Routing (Set this to YES)
  • Transport Type (set this to AUTO)
  • Port (make sure this says 5060)

Ok, now go back to the previous menu level and now select Registrar Server. Please enter your info similar to the folowing:

  • Registrar Server Address (again, this should be the FQDN or IP of your PBX) I used asterisk.iwayvietnam.com
  • Realm (again, just set this to “asterisk” no quotes)
  • User Name (ONLY your extension number)
  • Password (you know what this is by now….)
  • Transport Type (AUTO)
  • Port (5060)

Now back out of the menu to the previous level, then hit BACK again. If all went right, you should see status of that new SIP profile is “Registered”.

You’re almost done, just a couple more steps to complete your E63 VOIP configuration. Now go back to the Connection setup menu in the Settings menu. Look for an item called “Internet Tel.” and click on that to create a new Internet Telephone profile. It is here that you will select your default SIP profile and specify how it will connect. To begin, just select Options, then New Profile.

Once done, back out and go to the Menu -> Communication menu and then select Options, Settings…

For default Call type select “Internet Call”. Now exit all the menus. If your phone sees your wireless network
and your SIP extension account is active on the PBX, you should see this on your screen (note arrows) to indicate that your VOIP client is now ready to receive or make a call using your PBX instead of cellular minutes. Also, when you leave your wifi zone, the phone will automatically turn off and deactivate the VOIP client until you return within your wifi’s coverage zone.

Congratulations, if you see these two additional marks on your screen, you now have a working VOIP extension on your phone!

Enjoy and please comment below.

Phần mềm tự do nguồn mở (FOSS) – Ưu tiên số 1 trong chiến lược tăng tốc CNTT

Work and Life December 22nd, 2009

Từ bài trình bày của Tiến sĩ Nguyễn Trọng …

Tại Hội thảo Hợp tác Phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ XIII do Bộ Thông tin và Truyền thông và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, dưới sự bảo trợ của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Công nghệ thông tin (CNTT) vừa diễn ra tại thành phố Bắc Ninh ngày 27/11/2009 vừa qua, Tiến sĩ Nguyễn Trọng, nguyên chủ tịch Hội tin Học Thành phố Hồ Chí Minh các khóa 2&3, nguyên Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Thế giới Vi tính – PCW VN, đã có một bài trình bày rất khoa học và ấn tượng với đầu đề: “Con đường hiện thực để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT trong khoảng 10 năm tới đây”. Nhiều vấn đề đã được đưa ra trong bài trình bày này, đặc biệt tập trung bàn về khía cạnh một nước mạnh về CNTT thì phải mạnh về những lĩnh vực nào theo những định nghĩa được thừa nhận trong thế giới CNTT toàn cầu.

Ông đã liệt kê ra 3 lĩnh vực chính mà một quốc gia có thể phấn đấu để trở thành một quốc gia mạnh toàn diện về CNTT là: Công nghiệp Thiết bị CNTT, Công nghiệp phần mềm CNTT và Công nghiệp dịch vụ CNTT (CNpDVCNTT).

Bằng những lý luận logic và khoa học, bằng những con số thống kê thuyết phục, ông đã chứng minh rằng Việt Nam hầu như không có khả năng trở thành một quốc gia mạnh về CNTT trong khoảng 10 năm tới đây, nếu không đi theo con đường phát triển công nghiệp dịch vụ CNTT.

CNpDVCNTT bao gồm các loại hình dịch vụ như sau:

  1. Làm thuê tạo ra các sản phẩm CNTT theo yêu cầu, trong đó phần quan trọng nhất là tạo ra các hệ thống công nghệ thông tin hoặc từng phần của hệ thống theo yêu cầu; Vận hành các hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông – CNTT&VT (Outsourcing & Operational Services)
  2. Bảo trì các hệ thống CNTT&VT (Maintenance Services)
  3. Triển khai cài đặt và tích hợp các hệ thống CNTT&VT (Implementation & Integration Services)
  4. Tư vấn và hoạch định các hệ thống CNTT&VT (Consulting & Planning Services)

Trong tình hình cụ thể của VN, chúng ta thường thêm vào 2 nhóm hoạt động thuộc phạm vi dịch vụ CNTT, đó là:

  1. Huấn luyện và đào tạo về CNTT&VT
  2. Xuất bản về CNTT&VT và tạo lập các CSDL số

Ông đã đưa ra những con số thống kê trên thị trường quốc tế năm 2008 về CNpDVCNTT như bảng bên dưới:

Loại hình dịch vụ CNTT

Giá trị tỷ USD

Tỷ lệ %

Triển khai cài đặt và Tích hợp các hệ thống CNTT &VT (Implementation & Integration Services)

266

33

Làm thuê các sản phẩm CNTT&VT theo yêu cầu và vận hành các hệ thống CNTT&VT (Outsourcing & Operational Services)

218

27

Tư vấn và thiết kế các hệ thống CNTT&VT (Consulting & Planning Services)

177

22

Bảo trì các hệ thống CNTT&VT (Maintenance Services)

145

18

Tổng cộng

806

100

Ông giải thích “một Quốc gia mạnh về công nghiệp dịch vụ CNTT phải chiếm được thị phần thế giới khoảng 0,5% tức cỡ 6,5-7 tỷ USD, trong khi hiện nay chúng ta đang ở mức là 0,4 tỷ USD. Đây là con số không quá cao. Có hệ thống chính sách tốt thì chúng ta có thể đạt và vượt con số này. Cần thấy rõ rằng ngành dịch vụ CNTT phát triển tốt không chỉ là nguồn xuất khẩu quan trọng mà còn là điều kiện cần để ứng dụng CNTT có hiệu quả”.

Toàn văn báo cáo của TS Nguyễn Trọng

Tới những thực tế của FOSS

Chúng ta đều biết rằng, FOSS đi cùng một mô hình kinh doanh mới, dựa vào việc cung cấp các dịch vụ đi kèm với các phần mềm FOSS đó. Mô hình kinh doanh này hoàn toàn khác với mô hình kinh doanh phần mềm truyền thống (dựa chủ yếu vào doanh thu của việc bán các giấy phép sử dụng phần mềm).

John “Maddog” Hall, Chủ tịch của tổ chức Linux International, trong chuyến viếng thăm Việt Nam gần đây nhất của ông theo lời mời của chính phủ Việt Nam vào cuối tháng 8/2009 vừa qua, nhân sự kiện WITFOR 2009, đã khuyến cáo Việt Nam “nên sử dụng các giải pháp và sản phẩm FOSS vì sự cân bằng trong cán cân thương mại của quốc gia mình với các nước đối tác bên ngoài, để hàng triệu tỷ đồng không bay khỏi nước mình thông qua việc trả tiền phí bản quyền cho các phần mềm sở hữu độc quyền, mà hầu hết chúng sẽ được đầu tư trở lại cho những giải pháp và sản phẩm FOSS phù hợp với tiếng mẹ đẻ và cách làm việc của quốc gia mình, theo các nhu cầu thực tế của chính phủ, người dân và nhất là các doanh nghiệp công nghệ thông tin và phần mềm của nước mình thông qua các dịch vụ như tư vấn, đào tạo, cấp chứng chỉ, tích hợp, tùy biến, cài đặt, quản trị hệ thống, bản địa hóa, … Không ai có thể đáp ứng được tốt nhất những nhu cầu cấp thiết của người bản địa bằng chính người bản địa. Theo ông thì phần tiền mà bạn kiếm được từ hỗ trợ FOSS sẽ nhiều hơn so với kinh doanh phần mềm sở hữu độc quyền.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả các dịch vụ mà FOSS cung cấp theo mô hình kinh doanh mang tính tự nhiên như bản chất của nó, được liệt kê ở đây, là nằm trọn trong các dịch vụ được thế giới công nhận đối với CNTT.

Tháng 04/2009 vừa qua, Michael Tiemann, Phó Chủ tịch của hãng Red Hat, đồng thời là Chủ tịch của tổ chức Sáng kiến Nguồn mở OSI (nơi đưa ra định nghĩa về phần mềm nguồn mở và là nơi phê chuẩn tất cả các loại giấy phép của phần mềm nguồn mở), khi giải thích về tính ưu việt của mô hình phát triển FOSS đã khẳng định rằng mô hình này là mô hình duy nhất có thể trụ vững được trong thời đại ngày nay vì nó sẽ giúp tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí cho việc phát triển các phần mềm, tương đương với việc tiết kiệm hàng ngàn tỷ USD phát triển phần mềm mỗi năm trên thế giới.

Câu chuyện thực tế của thế giới FOSS 2 năm trở lại đây đã chứng minh được sức mạnh khổng lồ của nó, một khi cần được thể hiện một cách cụ thể ra bằng số tiền được định giá trên thị trường và/hoặc sức lan tỏa của nó trong một đơn vị thời gian. Các công ty nguồn mở như Google, Yahoo, Red Hat, Canonical, cùng với hàng loạt các công ty CNTT&VT trên thế giới, kinh doanh theo mô hình mới của nguồn mở dựa trên việc cung cấp các dịch vụ, mới thực sự là những ví dụ điển hình và đích thực của sự tăng tốc thần kỳ trong nền CNTT thế giới, mà mấu chốt của nó nằm ở việc giải phóng những khả năng vô biên của trí tuệ con người cho mục tiêu đổi mới sáng tạo trong CNTT&VT. Đó chính là một bài học mà chiến lược tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về CNTT nên lĩnh hội và đưa vào trong chiến lược và thực tiễn cuộc sống tại Việt Nam một cách nhanh nhất có thể được, trên một phạm vi rộng lớn nhất có thể được.

Kết luận

Cả về lý thuyết, các con số thống kê, và thực tiễn triển khai trên thế giới đều chỉ ra rằng, đối với Việt Nam, dịch vụ CNTT là chìa khóa để tăng tốc trong CNTT, mà mô hình kinh doanh và phát triển của FOSS là sự thể hiện gần như đầy đủ và trọn vẹn nhất tất cả các loại hình dịch vụ được thế giới thừa nhận đó.

FOSS phải là ưu tiên số 1 trong sự tăng tốc để trở thành nước mạnh về CNTT Việt Nam!

Trần Lê

PS: Bài được đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 12/2009, trang 64-65.

Kinh nghiệm tham gia cộng đồng phần mềm tự do nguồn mở

Open Source, Work and Life November 24th, 2009

Một bài viết rất hay: http://blog.iwayvietnam.com/tuanta/files/2009/11/contribution.pdf

Thanks to Nguyễn Thái Ngọc Duy from HanoiLUG.