Thấy gì qua các con số thống kê về việc phát triển nhân Linux

Sự khác biệt lớn nhất và có ý nghĩa nhất trong phát triển nhân Linux nằm ở mô hình phát triển phần mềm của nó với tốc độ tung ra phiên bản mới cứ 2-3 tháng một lần bởi một cộng đồng rộng lớn khắp thế giới với gần 5.000 người là các lập trình viên cá nhân tình nguyện và nhân viên của hơn 500 công ty, cả phần mềm lẫn phần cứng, thậm chí là cả từ một vài công ty không nằm trong nền công nghiệp công nghệ thông tin, điều chưa từng thấy đối với bất kỳ phần mềm nào trên thế giới từ trước tới nay.

Ai đang làm ra các phiên bản nhân Linux, nó đang được làm như thế nào, nhanh tới mức độ nào, là những câu hỏi mà lời giải đáp của chúng nằm trong tài liệu do Quỹ Linux (Linux Foundation) xuất bản lần thứ 2 vào tháng 08/2009 mang tựa đề: “Phát triển nhân Linux”.

Đã từ nhiều năm nay, cuộc tranh cãi và so sánh giữa hệ điều hành tự do nguồn mở GNU/Linux và các hệ điều hành khác, như Windows, Mac OS X hay Unix về những khả năng của chúng về an ninh, ổn định, tính bền vững, tốc độ thực thi, khả năng có lỗi và sửa lỗi, khả năng tương thích với các trình điều khiển thiết bị phần cứng, sự áp dụng của các doanh nghiệp trong cả các máy tính chủ cũng như các máy tính cá nhân cùng nhiều so sánh khác, vẫn luôn là điều mà hầu hết mọi người có cảm tưởng sẽ không có hồi kết.

Tuy nhiên, nhiều câu trả lời cho những so sánh ở trên là có thể hình dung được, suy luận được từ thực tế phát triển nhân Linux, thành phần – khó có thể nghi ngờ – của một hệ điều hành của tương lai, thành phần cốt lõi của hệ điều hành GNU/Linux, thành phần mà có nhiệm vụ quản lý phần cứng, chạy các chương trình của người sử dụng, và duy trì tổng thể an ninh và tính toàn vẹn của toàn bộ hệ điều hành.

Nhờ có hệ thống quản lý mã nguồn Git, mọi con số thống kê cho sự phát triển nhân Linux từ năm 2005, chính xác hơn là từ phiên bản nhân 2.6.11 cho tới thời điểm mà tài liệu được xuất bản, phiên bản nhân 2.6.30, đã được ghi chép lại một cách hết sức đầy đủ. Một vài con số thống kê có thể chỉ ra bên dưới.

1. Mô hình phát triển và tần suất tung ra phiên bản

Có thể nói rằng, sự khác biệt lớn nhất và có ý nghĩa nhất trong phát triển nhân Linux nằm ở mô hình phát triển phần mềm của nó. Nhân Linux được phát triển theo một mô hình lỏng lẻo, dựa vào thời gian, với một phiên bản nhân chính và mới cứ mỗi 2-3 tháng một lần được tung ra một lần. Từ ngày 02/03/2005 cho tới ngày 09/06/2009 (trong vòng 4 năm 3 tháng) đã có tới 20 phiên bản ổn định của nhân được tung ra, từ phiên bản 2.6.11 cho tới 2.6.30.

2. Tốc độ của những thay đổi trong nhân Linux

Khi chuẩn bị công việc để đệ trình cho nhân Linux, các lập trình viên chẻ các thay đổi của họ thành các đơn vị nhỏ, riêng rẽ, gọi là các bản vá. Các bản vá này có liên quan tới việc thêm, sửa hoặc xóa các dòng mã lệnh được đưa vào nhân đang được xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng mã nguồn và sửa các lỗi trong nhân. Số lượng các bản vá ngày một gia tăng, nếu ở phiên bản 2.6.11 số lượng bản vá là 3.616 thì tới phiên bản 2.6.30 đã là 11.989. Tốc độ thay đổi các bản vá theo thời gian cũng gia tăng, nếu ở phiên bản 2.6.11 là trung bình 2.18 bản vá trong 1 giờ đồng hồ thì tới phiên bản 2.6.30 con số này đã là 6.40, và con số này vẫn tiếp tục gia tăng.

3. Kích cỡ nguồn của nhân Linux

Điều đáng lưu ý là những con số về bản vá nêu ở trên chưa phải là tất cả, nếu biết rằng nhiều bản vá đã không bao giờ được chấp nhận để đưa vào nhân dòng chính thống. Vì thế mà khả năng giữ vững được tốc độ thay đổi như vậy trong nhiều năm là chưa từng thấy trong bất kỳ dự án phần mềm công cộng nào từ trước tới nay.

Nhân Linux giữ tăng trưởng về kích cỡ qua thời gian khi mà nhiều phần cứng được hỗ trợ hơn và nhiều tính năng khác được bổ sung thêm. Nếu chỉ tính tới các con số thực sự được đưa ra như là “mã nguồn”, thì số lượng tệp và số lượng các dòng mã lệnh của từng phiên bản nhân cũng ngày một gia tăng, nếu ở phiên bản 2.6.11 có số lượng tệp là 17.090 và số dòng lệnh là 6.624.076 thì tới phiên bản 2.6.30 các con số tương ứng đã là 27.911 và 11.560.971. Một lưu ý nữa là tốc độ tăng trưởng của nhân luôn ở mức cao, nhưng nó đã gia tăng đáng kể sau phiên bản nhân 2.6.27, khi có sự bổ sung cây Linux tiếp theo (chứa đựng nhưng thay đổi được mong đợi trong phiên bản tiếp theo của nhân).

Số lượng dòng mã lệnh được thêm, xóa và sửa trong từng ngày theo từng phiên bản nhân cũng gia tăng. Nếu ở phiên bản 2.6.11 các con số cho các dòng lệnh được thêm, xóa và sửa là 3.224; 1.360 và 1.290, thì tới phiên bản 2.6.30 các con số tương ứng đã là 12.993; 4.958 và 2.830 một cách tương ứng. Tốc độ thay đổi này là lớn hơn bất kỳ dự án phần mềm công cộng nào với bất kỳ kích cỡ nào từ trước tới nay.

4. Ai đang tiến hành công việc

Số lượng đa dạng các lập trình viên và các công ty có thể nhận biết được đang đỡ đầu cho phát triển nhân Linux đã và đang gia tăng qua các phiên bản nhân khác nhau. Trên thực tế, cộng đồng phát triển của các cá nhân đã tăng gấp đôi trong 3 năm qua. Nếu ở phiên bản 2.6.11 có 389 lập trình viên từ 68 công ty được biết tên tham gia phát triển nhân Linux, thì tới phiên bản 2.6.30 các con số này đã là 4.910 và 532 một cách tương ứng.

5. Ai đang đỡ đầu cho công việc này

Nhân Linux là một nguồn có số lượng lớn các công ty khác nhau sử dụng. Trong số đó, nhiềucông ty đó chưa bao giờ tham gia vào sự phát triển của nhân cho dù số lượng các công ty đang làm việc để cải tiến cho nhân vẫn đang ngày một gia tăng. Hiện các lập trình viên được thuê, được trả tiền từ các công ty đang tiến hành gần 75% lượng công việc của nhân, trong số hơn 25% còn lại thì 7.6% số lượng công việc được thực hiện mà còn chưa rõ từ công ty nào, và 18.2% là từ các lập trình viên độc lập và những người tình nguyện mà không nhận tài chính từ bất kỳ công ty nào.

Trong số gần 75% công việc của nhân được nêu ở trên, các công ty và tổ chức có đóng góp cho sự phát triển nhân Linux trong vòng 3 năm vừa qua theo thứ tự xếp hạng từ trên xuống, với con số trong ngoặc là số % đóng góp, lần lượt là: Red Hat (12.3), IBM (7.6), Novell (7.6), Intel (5.3), Consultant (2.5), Oracle (2.4), Linux Foundation (1.6), SGI (1.6), Parallels (1.3), Renesas Technology (1.3), Academia (1.2), Fujitsu (1.1), MontaVista (1.1), MIPS Technologies (1.1), Analog Devices (1.0), HP (1.0), Freescale (0.9), Google (0.9), Linutronix (0.9), Astaro (0.8), NetApp (0.7), Marvell (0.6), Nokia (0.6), Simtec (0.6), QLogic (0.6), Movial (0.5), AMD (0.5), Microsystems (0.5) và hơn 500 công ty khác mà không được liệt kê tên ở đây.

Lưu ý là nếu tính tới sự phát triển của từng phiên bản nhân Linux, thì số lượng và tên của các công ty có thể sẽ là khác với các tỷ lệ đóng góp cũng sẽ khác so với danh sách ở trên. Ví dụ như, nếu lấy sự phát triển của phiên bản nhân 2.6.24 làm ví dụ, thì sẽ thấy có tên của một số công ty khác như: NTT (0.7), AMD (0.8); XenSource (0.7)…

6. Ai đang rà soát lại công việc

Các bản vá không thường đi một cách trực tiếp vào trong nhân dòng chính thống; thay vào đó, chúng đi qua một trong hàng trăm cây của các hệ thống phụ. Mỗi cây của các hệ thống phụ được chuyên biệt cho một phần nhất định của nhân (những ví dụ có thể là các trình điều khiển cho đĩa cứng SCSI, mã cho kiến trúc x86, hoặc mạng) và theo sự kiểm soát của một người duy trì cụ thể nhất định. Khi một người duy trì của một hệ thống phụ phê chuẩn một bản vá đưa vào trong một cây hệ thống phụ, thì anh hoặc chị ta sẽ gắn một dòng “Được ký bởi” vào đó. Trên thực tế, việc ký phê duyệt mã nguồn để được đưa vào các phiên bản nhân có thể là các cá nhân hoặc đại diện của các công ty (lưu ý là nhân Linux được cấp phép theo giấy phép GPLv2, vì thế dù là ai thay mặt công ty bất kỳ nào ký phê chuẩn mã nguồn để đưa vào nhân, thì các mã nguồn đó đều là phần mềm tự do và không phải là sở hữu của các công ty đó), cụ thể như sau:

Đối với các phiên bản trước 2.6.24, 10 cá nhân xếp hạng hàng đầu (với số phần trăm được để trong dấu ngoặc) ký phê chuẩn mã nguồn để đưa vào nhân là: Andrew Morton (10.5), Ingo Molnar (9.9), David S. Miller (9.6), John W. Linville (6.0), Mauro Carvalho Chehab (5.4), Greg Kroah-Hartman (3.8), Jeff Garzik (3.0), Thomas Gleixner (2.7), Linus Torvalds (2.7) và James Bottomley (2.1). Như chung ta có thể thấy, Linus Torvalds trực tiếp trộn chỉ dưới 3% tổng các dòng của các bản vá dù ông vẫn là người quan trọng nhất trong sự phát triển của nhân Linux, khi ông là người chịu trách nhiệm với các “ủy thác trộn”, nơi mà một tập hợp những thay đổi được trộn trong những thay đổi khác. Linus Torvalds tạo ra số lượng lớn những ủy thác trộn đó.

Đại diện 10 công ty và tổ chức xếp hạng hàng đầu ký phê chuẩn mã nguồn để đưa vào nhân là: Red Hat (36.4), Google (10.5), Novell (8.2), các tình nguyện viên (7.6), Intel (6.4), IBM (5.3), Linutronix (2.8), Linux Foundation (2.7), Consultant (1.9) và Hansen Partnership (1.6).

7. Vì sao các công ty hỗ trợ phát triển nhân Linux

Danh sách các công ty tham gia trong sự phát triển nhân Linux có nhiều công ty công nghệ thành công nhất đang tồn tại. Không có công ty nào đang hỗ trợ sự phát triển của Linux như một hành động từ thiện; trong từng trường hợp, những công ty này thấy rằng việc cải tiến nhân sẽ giúp họ có tính cạnh tranh hơn trong các thị trường của họ. Một số ví dụ:

  • Các công ty như IBM, Intel, SGI, MIPS, Freescale, HP, Fujitsu, … tất cả đang làm việc để đảm bảo rằng Linux chạy tốt trên các phần cứng của họ. Và đổi lại, làm cho những chào mời của họ cuốn hút hơn đối với những người sử dụng Linux, kết quả là bán hàng được gia tăng.
  • Các nhà phân phối như Red Hat, Novell, và MontaVista có sự quan tâm rõ ràng trong việc làm cho Linux có khả năng nhất có thể. Qua đó các công ty này cạnh tranh mạnh mẽ với nhau vì các khách hàng, tất cả họ làm việc cùng nhau để làm cho nhân Linux được tốt hơn.
  • Các công ty như Sony, Nokia, và Samsung xuất xưởng Linux như một thành phần của các sản phẩm như máy quay video, các đầu TV, và các điện thoại di động. Làm việc với quá trình phát triển nhân Linux giúp cho các công ty của họ đảm bảo rằng Linux tiếp tục sẽ là một cơ sở vững chắc cho các sản phẩm của họ trong tương lai.
  • Các công ty mà không kinh doanh công nghệ thông tin có thể vẫn thấy làm việc với Linux là có ích lợi. Nhân 2.6.25 đã đưa vào một triển khai của giao thức mạng PF_CAN mà đã được Volkswagen đóng góp. Nhân 2.6.30 đã có một bản vá từ Quantum Controls BV, mà nó làm các thiết bị định tuyến cho các tàu thuyền. Những công ty này thấy Linux sẽ là một nền tảng vững chắc mà dựa vào đó để xây dựng các sản phẩm của họ; họ đóng góp cho nhân Linux để giúp đảm bảo rằng Linux tiếp tục đáp ứng được các nhu cầu của họ trong tương lai. Không một hệ điều hành nào khác trao sức mạnh như vậy để gây ảnh hưởng tới sự phát triển trong tương lai cho những người sử dụng nó.

Có một số các lý do đối với các công ty để hỗ trợ nhân Linux. Kết quả là, Linux có được một cơ sở rộng rãi sự hỗ trợ mà nó không phụ thuộc vào bất kỳ công ty duy nhất nào. Thậm chí nếu người đóng góp lớn nhất mà có chấm dứt tham gia vào ngày mai, thì nhân Linux vẫn cứ giữ được là một cơ sở vững chắc với một cộng đồng phát triển tích cực và rộng lớn.

8. Kết luận

Nhân Linux là một trong những dự án nguồn mở thành công nhất từ trước tới giờ. Tốc độ thay đổi và số lượng những cá nhân đóng góp khổng lồ chỉ ra rằng nó có một cộng đồng mạnh mẽ và tích cực, tạo ra một cách ổn định sự tiến bộ của nhân đáp ứng số lượng những môi trường khác nhau mà nó được sử dụng trong đó. Tốc độ của sự thay đổi này tiếp tục gia tăng, khi mà số lượng các lập trình viên và các công ty tham gia vào trong quá trình này gia tăng; vì thế xa hơn, quá trình phát triển này đã chứng minh rằng có khả năng để mở rộng về phạm vi với tốc độ cao hơn mà không có lo lắng gì.

Có đủ các công ty tham gia cấp vốn cho phần lớn nỗ lực phát triển này, thậm chí cả khi nhiều công ty có thể hưởng lợi từ việc đóng góp cho Linux mà không cấp vốn cho nó. Với sự mở rộng hiện hành của Linux ở các thị trường máy chủ, máy để bàn và nhúng, hợp lý để mong đợi số lượng những công ty đóng góp – và các lập trình viên cá nhân – sẽ tiếp tục gia tăng. Cộng đồng phát triển nhân chào đón những lập trình viên mới; những cá nhân hoặc công ty có quan tâm trong việc đóng góp cho nhân Linux được khuyến khích tư vấn “Làm thế nào để tham gia vào cộng đồng Linux” (có thể thấy được tại http://ldn.linuxfoundation.org/book/how-participate-linux-community) hoặc liên hệ với các tác giả của tài liệu này hoặc với Quỹ Linux để có thêm thông tin.

Người dịch: Lê Trung Nghĩa

Nguồn: Linux Kernel Devolopment, The Linux Foundation, tháng 08/2009.

Bộ Cựu chiến binh Mỹ ra hợp đồng thứ 2 về hệ thống khiếu nại chất độc da cam

Lời người dịch: Bộ Cựu chiến binh Mỹ đang gấp rút để có được một hệ thống giải quyết các khiếu nại của các cựu chiến binh đã từng tham chiến trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam về chất độc da cam. Hệ thống này sẽ xử lý khoảng 240,000 khiếu nại về 15 thứ bệnh được cho là từ nguyên nhân của chất độc da cam. Số tiền dự kiến mà chính phủ Mỹ sẽ bồi thường cho các cựu chiến binh Mỹ trong vụ này khoảng 13,4 tỷ USD. Không rõ các khiếu nại về chất độc da cam của các nạn nhân ở Việt Nam thì được quản lý như thế nào? Không rõ hàng triệu nạn nhân da cam của Việt Nam thì có được quyền bình đẳng như những cựu chiến binh Mỹ này không, xét về trách nhiệm của những người đã gây ra thảm họa này cho những người bệnh của Việt Nam. Hy vọng các cơ quan có trách nhiệm giải quyết vụ da cam của Việt Nam cũng nắm rõ được thông tin này.

Bộ Cựu chiến binh (VA) đã trao cho IBM một hợp đồng hồi tháng 07 để phát triển trong vòng 3 tháng một hệ thống để xử lý các khiếu nại cho các cựu chiến binh bị thiệt hại từ những bệnh tật có liên quan tới chất độc da cam thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Nhưng tuần trước các quan chức đã không giải thích được khi đưa ra một hợp đồng khác tìm kiếm một nhà thầu thứ 2 để làm công việc này trong thời gian chỉ bằng 1/3 trong khi hợp đồng của IBM vẫn đang diễn ra.

VA cần hệ thống mới để xử lý khoảng 240,000 khiếu nại về 15 bệnh được xác định là kết quả của các cá nhân quân sự bị phơi nhiễm chất độc da cam, một chất làm rụng lá được rải trong các rừng rậm trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. VA coi tất cả những người đã phục vụ tại Việt Nam đã bị phơi nhiễm chất độc da cam, và 15 bệnh mà họ có thể có là kết quả của sự liên hệ với chất hóa học này.

Theo VA, chính sách coi các căn bệnh là kết quả của sự phơi nhiễm chất hóa học này sẽ đơn giản hóa quá trình đối với các cựu chiến binh nhận tiền bồi thường vì bộ này sẽ dừng quá trình yêu cầu các cựu chiến binh chứng minh bệnh tình của họ đã bắt đầu khi nào, hoặc tệ hơn, có đúng là trong khi phục vụ quân đội của họ tại Việt Nam hay không. Việc chi trả cho những khiếu nại về chất độc da cam sẽ ngốn của Mỹ 13.4 tỷ USD.

Các quan chức của Bộ này đã quyết định năm nay sẽ xử lý những khiếu kiện một cách tách biết khỏi các hệ thống mà Cơ quan vì Lợi ích của các Cựu chiến binh sử dụng. Vào tháng 3, Bộ trưởng Bộ này Eric Shinseki đã nói ông muốn nhờ vào các kỹ năng của khu vực tư nhân để tăng nhanh tốc độ phát triển hệ thống này. “Đây sẽ là một cách mới trong tiến hành công việc và một bước tiến theo cách mà chúng ta xử lý những khiếu nại có tính giả định mà chúng ta mong muốn nhận được trong vòng 2 năm tới”, ông đã nói.

VA ban đầu đã lên kế hoạch trao hợp đồng vào tháng 4, nhưng bị chậm cho tới tận tháng 7. IBM cuối cùng đã thắng gói hợp đồng 9.1 triệu USD này. Gọi thầu mua sắm yêu cầu có mẫu sản phẩm sẵn sàng vào tháng 10 và toàn bộ sản phẩm vào tháng 12.

VA đã yêu cầu IBM phát triển một hệ thống hoàn toàn tự động và một dạng các khiếu nại mà máy có thể đọc được mà những cựu chiến binh có thể tải về một cách điện tử, và tùy họ lựa chọn, gửi đi bằng điện tử.

Các quan chức muốn các mẫu này là ngắn hơn sơ với tài liệu hiện hành, phù hợp tốt cho một phương pháp xử lý tự động, và họ mong đợi IBM sẽ sử dụng các hệ thống thương mại ở mức độ lớn nhất có thể. Họ cũng muốn các nhân viên và các cựu chiến binh có khả năng truy cập hệ thống này qua Web, với một kho dữ liệu riêng biệt được liên kết tới các hệ thống hiện đang tồn tại của Bộ.

Nhưng vào ngày 03/09, các quan chức đã âm thâm đưa lên website về các Cơ hội Kinh doanh của Liên bang một sự mua sắm thứ 2 cho hệ thống xử lý y hệt này. Tài liệu đã không đi kèm với bất kỳ công bố nào công khai. Mua sắm mới này đưa vào các yêu cầu gần y hệt như hợp đồng ban đầu, như thời hạn chót để phân phối được rút ngắn lại.

VA muốn nhà thầu được chọn để trình diễn khả năng xử lý điện tử các khiếu nại trong 15 ngày trao hợp đồng và đưa ra một hệ thống sản phẩm sẵn sàng 15 ngày sau đó, một nhiệm vụ rất khó, theo một trong những nhà thầu mà đã từ chối được nêu tên.

Hệ thống này phải hoạt động vào tháng sau, và các bên đấu thầu phải đệ trình các đề xuất của họ vào thứ sáu, chỉ một tuần sau lời gọi thầu được đưa ra, cũng là vào ngày thứ sáu.

Harold Gracey, một nhà tư vấn của Topside Consulting mà đã từng phục vụ như là giám đốc nhân sự tại VA từ 1994-1998, nó ông giả thiết là bộ đưa ra mua sắm thứ 2 này như một kế hoạch phòng bị trong trường hợp IBM không thể đưa ra được hệ thống đúng thời hạn.

Gracey bổ sung VA có thể tìm được nhà thầu thứ 2 đáp ứng được các yêu cầu, nhưng những người dự thầu cũng phải nhận thức được tính công khai tiêu cực có thể gây ra nếu họ không cung cấp ra được. Một nguồn thân cận với VA nói ông đã xem sự mua sắm nguồn thứ 2 này như một cú thúc để IBM hoàn thành những yêu cầu của mình đúng thời gian.

Các nhóm cựu chiến binh nói bất luận các lý do gì đằng sau mua sắm thứ 2 thì họ vẫn lo lắng rằng bộ này có thể không có khả năng đáp ứng được các thời hạn chót của mình. “Công bố thông thường của VA đối với một hợp đồng thứ 2, mà không có bất kỳ chi tiết nào được đưa ra công khai, làm nảy sinh những lo lắng đáng kể trong các cựu chiến binh về sự minh bạch của VA của khả năng của VA để xử lý những khiếu nại về chất độc da cam theo một ách chính xác và đúng lúc”, Paul Sullivan, giám đốc điều hành của Các cựu chiến binh vì Cảm giác Chung (Veterans for Common Sense), nói. “Chúng tôi hy vọng VA đưa là một lời giải thích về điều này để giải các mối lo của các cựu chiến binh”.

Các quan chức của VA đã không trả lời cho nhiều yêu cầu từ Nextgov để bình luận về tình trạng hợp đồng của IBM và đã không trả lời cho câu hỏi vì sao họ đã đưa ra mua sắm thứ 2 này. Các lãnh đạo của IBM cũng đã không trả lời cho những cuộc gọi điện thoại và thư điện tử về tình trạng hợp đồng của công ty.

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Phản hồi bài báo “Argentina – Hàn Quốc 4-1: Messi quá hay!” trên báo TTO

Bài viết trên báo TTO: http://chuyentrang.tuoitre.vn/WorldCup2010/World-Cup-2010/384837/Argentina—Han-Quoc-4-1-Messi-qua-hay.html

Chào tòa soạn,

Tôi là một độc giả thường xuyên của báo tuổi trẻ online, cũng là 1 fan hâm mộ đội tuyển Achentina. Nhân bài viết này, tôi muốn góp ý đính chính nhận định:
“TTO – Ứng cử viên ngôi vô địch World Cup lần này- Argentina- trở thành đội bóng đầu tiên giành quyền vào vòng II sau chiến thắng đậm đà 4-1 trước Hàn Quốc.”

Thực tế Achentina chưa chắc suất vào vòng 2, mà mới chỉ tạo cho mình 1 lợi thế lớn, thậm chí là rất có khả năng kết thúc vòng bảng với vị trí đầu bảng nếu giành được tối thiểu 1 kết quả HÒA với Hy Lạp.

Trong trường hợp Achentina thua Hy Lạp, Hàn Quốc lại thắng Nigeria, cả 3 đội sẽ cùng 6 điểm. Lúc này hiệu số bàn thắng bại sẽ được tính đến (xem thêm luật:
http://www.uefa.com/MultimediaFiles/Download/competitions/WorldCup/67/17/65/671765_DOWNLOAD.pdf – trang 40)

Giả sử, trường hợp xấu, Hy Lạp thắng Achentina chênh lệch 3 bàn, Hy Lạp sẽ kết thúc vòng bảng với 6 điểm, hiệu số là +2; Achentina thì cũng 6 điểm nhưng xếp sau với hiệu số chỉ là +1.
Hàn Quốc khi đó, nếu cũng thắng Nigeria chênh lệch 3 bàn trở lên, sẽ đẩy Achentina xuống vị trí thứ 3 và bị loại.

Trường hợp kể trên quả là khó, nhưng bạn biết đấy, trong bóng đá tiềm ẩn rất nhiều bất ngờ; và một khi chưa chắc suất thì điều gì cũng có thể xảy ra; nhất là khi các cầu thủ Achentina chủ quan.

Hy vọng vài dòng phân tích, cùng link đến văn bản luật đã giúp cho tòa soạn hiểu và sửa lại nhận định trong bài viết này cho chính xác.

Trân trọng,
Tuấn

(bài góp ý đã được gửi cho tòa soạn báo Tuổi Trẻ)

Viettel bỏ túi 24 tỷ đồng nhờ phần mềm nguồn mở

Từ tháng 7/2009 đến nay, Viettel đã chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở (PMNM) cho hơn 2.200 máy tính và nhờ đó đã tiết kiệm được gần 24 tỷ đồng chi phí mua bản quyền phần mềm nguồn đóng.

Cụ thể, hơn 2.200 máy tính đã được cài đặt hệ điều hành và phần mềm nguồn mở là những máy tính của gần 700 cửa hàng đa dịch vụ Viettel và trên 100 bưu cục của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel (Viettel Post) trên toàn quốc. Các máy tính được cài đặt hệ điều hành nguồn mở Ubuntu để thay thế hệ điều hành Windows và phần mềm ứng dụng văn phòng Open Offfice thay cho ứng dụng văn phòng Microsoft Office, bộ gõ tiếng Việt Scim-Unikey và X-Unikey thay thế bộ gõ Vietkey và Unikey, phần mềm nhận thư điện tử Mozzila ThunderBird thay thế Outlook Express và MS Outlook.

Theo tính toán của Viettel, thông qua triển khai ứng dụng PMNM cho trên 2.200 máy tính, tập đoàn này đã tiết kiệm được gần 24 tỷ đồng so với việc mua hệ điều hành Windows và bộ ứng dụng văn phòng Microsoft Office với giá khoảng 600 USD/máy. Dự kiến, trong thời gian tới Viettel sẽ tiếp tục triển khai cài đặt hệ điều hành và PMNM thêm cho máy tính lắp đặt mới trong toàn tập đoàn.

Đại diện Tập đoàn Viettel cho biết, triển khai ứng dụng nguồn mở thành công tại Viettel không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu cách cài đặt và sử dụng ứng dụng, mà các kỹ sư CNTT của Viettel đã nghiên cứu chỉnh sửa, tuỳ biến nhằm đưa việc sử dụng phần mềm trở nên đơn giản hoá, tối ưu hoá, cũng như tạo sự ổn định và tương thích với các phần mềm nội bộ của Viettel.

“Triển khai hệ điều hành và phần mềm nguồn mở là một chiến lược quan trọng của tập đoàn Viettel trước hết nhằm tiết kiệm chi phí và tránh được các vi phạm bản quyền thương mại. Không những thế, sử dụng các ứng dụng nguồn mở mang lại môi trường làm việc có tính ổn định, an toàn và thuận tiện trong việc quản lý công việc, nâng cao năng suất lao động. Sử dụng hệ điều hành và phần mềm nguồn mở thay thế cho hệ điều hành và phần mềm thương mại đang là một xu thế ngày càng phổ biến trên thế giới”, đại diện Viettel nhấn mạnh.

Theo ICTnews

Community grows for open-source enterprise apps

Companies and their affiliated communities often sit uneasily together, awkward partners at the software dance. To balance the two, companies often seek to reduce corporate control of community through open-source licensing, but this strategy may be diluted by the common requirement to require community contributors to sign contribution agreements.

Nothing could be worse for the formation of true, code-contributing communities, according to Brian Aker, former director of architecture at MySQL:

[R]equiring contributor agreements destroyed outside MySQL development to the kernel, and left MySQL in a position where no substantial, or many, contributions ever occurred.

And yet most people would point to MySQL’s community (as Microsoft’s Dan Jones does) as a key reason for its success.

Perhaps they’re talking about different kinds of community?

Of course they are, and both kinds are important. MySQL attracted a broad-based user community, one filled with developers who modified and embedded MySQL to meet a vast array of different needs. Did it have a solid base of outside contributors who wrote the core of the MySQL database. No. But at tens of millions of downloads each year and a final sale price of $1 billion to Sun, few in the MySQL community are likely to complain.

The reality is that very few open-source projects succeed in attracting and marshaling significant outside contributions. Linux, Eclipse, and Mozilla all do, and perhaps for reasons I’ve identified before, but they are the exceptions to the rule.

Even so, it’s surprising just how significant the communities are around an increasing number of enterprise open-source projects, which communities include both users and developers, a significant number of whom actively contribute code to these enterprise applications. Who would imagine a community of millions forming around developing and using software designed to help the world’s largest enterprises solve some of their biggest problems? In other words, helping the Man feed…the Man?

Strange, but true.

Jaspersoft today announced some remarkable community numbers. More interesting, however, is that Jaspersoft isn’t alone in this.

Let’s run the community numbers for a few of the more successful open-source application companies, Jaspersoft, Alfresco, SugarCRM, and Zimbra:

Jaspersoft Alfresco SugarCRM Zimbra
Registered community members: 120,000 133,000 130,000 33,000*
Software downloads to date: 10 million 2 million 7 million 5 million*

* Zimbra gave me the number of active forum registrations, which is arguably a better metric than raw forum/documentation registrations, which is what I was able to collect from the other companies.

Remember, we’re talking here about enterprise applications, software at the top of the stack, not operating systems, scripting languages, middleware, or application server software each of which has a built-in audience that naturally dwarfs that of any enterprise application.

These companies are all either cash-flow positive or within striking distance of cash-flow positive. (At least two are profitable.) They’re going concerns selling free, open-source software to enterprise customers and succeeding in an IT recession.

Importantly, these communities are highly additive to the companies associated with them. Zimbra, for example, has more than 50 million paid mailboxes and counting. Alfresco, for its part, has grown every quarter since its formation in early 2005, with its last quarter seeing a 30-percent quarter-over-quarter increase on an already large base.

These are significant outcomes, and they derive from significant communities.

It turns out that while a CRM system may not justify a tattoo, plenty of developers care deeply about such “boring” software and contribute accordingly. Enterprise developers are just as passionate about their software as any other community of developers. They drive adoption and accelerate innovation.

The companies behind the projects, in turn, invest more in open-source software development. It’s a virtuous cycle.

This is why open source makes sense, not just at the infrastructure layer of IT, but all the way up to the applications that make enterprises tick.

Disclosure: In order to be able to present complete data, I turned to companies with which I’m involved as an adviser (SugarCRM, Jaspersoft), former employee (Alfresco), or where I keep close tabs (Zimbra).

Matt Asay is chief operating officer at Canonical, the company behind the Ubuntu Linux operating system. Prior to Canonical, Matt was general manager of the Americas division and vice president of business development at Alfresco, an open-source applications company. Matt brings a decade of in-the-trenches open-source business and legal experience to The Open Road, with an emphasis on emerging open-source business strategies and opportunities. He is a member of the CNET Blog Network and is not an employee of CNET. You can follow Matt on Twitter @mjasay.
Source: CNET.com

Hội Người Khuyết tật Hà Nội nhận hỗ trợ máy vi tính chạy nguồn mở

Hôm nay Hội Người Khuyết tật Hà Nội đã tổ chức giới thiệu bộ phần mềm Ubuntu 9.10 với một số đại diện các chi Hội quận huyện. Các máy tính được dùng trong buổi giới thiệu sẽ được các đại biểu mang về dùng cho công tác của chi Hội. Đây là số máy tính được các “cổ động viên” của HanoiLUG phục hồi từ số máy cũ quá hạn sử dụng của AUF, cài đặt Ubuntu để tặng cho Hội NKTHN, kèm theo với bộ sách hướng dẫn sử dụng phần mềm nguồn mở do Bộ KHCN xuất bản. Số máy này được Hội chuyển giao cho các quận huyện xa trung tâm.

Ông Vũ Mạnh Hùng, chủ tịch Hội Người Khuyết tật Hà Nội đã từng là phó GĐ trung tâm tin học của một ngân hàng quốc doanh lớn, cho rằng đưa các máy này đến những nơi có mức dịch vụ hỗ trợ thấp là một cách thử thách, đánh giá khả năng miễn nhiễm virus, tính ổn định của phần mềm Linux có được như tuyên truyền. Giao diện tiếng Việt toàn bộ và phí bản quyền bằng không của bộ phần mềm này cũng là một điều, theo ông VM.Hùng, rất đáng quan tâm để phổ biến rộng rãi trong Hội.

Trở ngại duy nhất với việc phát triển ứng dụng phần mềm nguồn mở trong Hội NKTHN là chương trình đào tạo có tài trợ cho Hội không thể tiến hành tập trung vì điều kiện đi lại khó khăn của các hội viên. Việc đào tạo phân tán tại các cơ sở quận huyện trên địa bàn thành phố hoàn toàn do các trung tâm thực hiện trên nền Windows và các trình ứng dụng tương ứng.

Nguyễn Hữu Thành – HanoiLUG

Tỷ phú Carlos Slim – một tài năng bẩm sinh

Tỷ phú Carlos Slim. Ảnh: Forbes.

Carlos Slim người Mexico vừa soán ngôi giàu nhất thế giới với khối tài sản 53,5 tỷ USD. Reuters có bài viết giới thiệu chân dung ông dưới đây.

Người đàn ông giàu nhất thế giới Carlos Slim đã thể hiện tài năng kinh doanh ngay từ lúc là một cậu bé 10 tuổi, khi ông nhét đầy túi những đồng peso kiếm được nhờ bán đồ uống và đồ ăn nhẹ.

Ở tuổi thiếu niên, cậu tiếp tục ghi chép và tính toán những món chi tiêu cũng như khoản tiền kiếm được; mua trái phiếu chính phủ để từ đó học được bài học về lãi suất.

Hơn nửa thế kỷ sau, tỷ phú Slim 70 tuổi với khối tài sản trị giá 53,5 tỷ USD đã đánh bại nhà sáng lập Microsoft Bill Gates để trở thành người đứng đầu danh sách những cá nhân giàu có nhất thế giới, do tạp chí Forbes công bố hôm qua.

Đế chế kinh doanh rộng lớn của ông bao gồm những cửa hàng nổi tiếng nhất, công ty viễn thông lớn nhất, nhiều khách sạn, nhà hàng, công ty khoan dầu, xây dựng và ngân hàng Inbursa của Mexico. Người ta khó có thể trải qua một ngày ở Mexico mà không trả ông ít tiền nào.

Bên ngoài nước, Slim có cổ phần ở nhiều tập đoàn danh tiếng như hãng bán lẻ Sak và New York Times Co.

Sự nghiệp của ông bắt đầu phát triển mạnh vào năm 1990, khi ông và các đối tác mua công ty điện thoại quốc doanh đang khật khừ Telmex với giá 1,7 tỷ USD. Slim biến nó thành một cỗ máy kiếm tiền hàng đầu, rồi từ đó ông xây dựng nên America Movil, mở rộng không ngừng thông qua các thương vụ sáp nhập để biến nó thành hãng điều hành viễn thông không dây lớn thứ tư thế giới.

Trong khi những người không ưa chỉ trích Slim lợi dụng tình trạng độc quyền để làm giàu, Slim có một triết lý đơn giản về chuyện kiếm tiền.

“Sự giàu có giống nwh một vườn cây ăn quả”, ông từng nói với Reuters năm 2007. “Với cái vườn ấy, việc anh phải làm là làm cho nó lớn lên, đầu tư cho nó rộng ra, mở rộng sang những khu khác nữa”.

Với hình ảnh quen thuộc là điếu xì gà trên môi, Slim đi mua những công ty đang làm ăn khó khăn và biến chúng thành những con bò sữa.

Năm 2008, ông mua một ít cổ phần của New York Times khi giá cổ phiếu hãng này tụt dốc. Giờ đây, từ 250 triệu USD ông cho nhà xuất bản này vay, Slim đã có thể kiếm 80 triệu và có 16% cổ phần. Tuy nhiên Slim vẫn nói ông không có ý muốn trở thành một ông trùm truyền thông Mỹ.

Tuy nhiên khoản đầu tư này của Slim khiến nhiều người trong giới truyền thông ở New York lo ngại. Các nhà đầu tư thì đoán rằng ông có thể dấn thêm bước nữa trong việc mua Times; còn trùm truyền thông Rupert Murdoch nói ông nghi ngờ khả năng ban lãnh đạo hãng này nhường quyền kiểm soát cho người ngoài gia đình, nhất là người nước ngoài.

Lối sống căn cơ

Slim được học bài học đầu tiên về kinh doanh từ cha mình, ông Julian Slim Haddad, một người Li băng di cư đến Mexico đầu những năm 1900 và mở cửa hàng bách hóa “Ngôi sao phương Đông”. Slim cha đã mua những tài sản có giá rẻ trong thời gian xảy ra cuộc Cách mạng Mexico.

Năm 1987, khi giá cổ phiếu lao dốc trong một trong những cuộc khủng hoảng ở Mexico, Slim nhận thấy cơ hội trong khi những người khác lo sợ, ông đã mua nhiều cổ phiếu giá thấp và bán chúng đi khi kinh tế hồi phục.

“Chúng tôi biết rằng những cuộc khủng hoảng chỉ là tạm thời, không thể có con quỷ nào sống đến 100 năm”, Slim từng nói. “Khi khủng hoảng xảy ra, có những sự đánh giá này nọ, có sự hoảng loạn, và nhiều tài sản bị định giá thấp”.

Khối tài sản khổng lồ của Slim không khiến ông từ bỏ lối sống giản dị. Ông vẫn sống trong ngôi nhà đã sống 40 năm nay và lái một chiếc Mercedes Benz cũ kỹ. Chiếc xe này được bọc thép và được các vệ sinh canh giữ cẩn thận. Ông không hề dùng chuyên cơ đắt tiền, du thuyền hay những thứ đồ xa xỉ mà tầng lớp thượng lưu Mexico vẫn ham chuộng.

Con đường làm giàu

Chàng thanh niên Slim, sau khi tốt nghiệp kỹ sư, đã lập ra một công ty bất động sản và làm việc cho thị trường chứng khoán Mexico. Khi đã có trong tay một ít vốn, anh mở công ty môi giới vào giữa thập niên 60 và trong một thập kỷ sau đó mua các công ty đang làm ăn thua lỗ, trong đó có một hãng thuốc lá. Ông mua một cửa hàng bách hóa và cà phê, một công ty khai mỏ và một vài hãng sản xuất dây cáp và lốp xe.

Năm 1990, Slim dùng tài sản có được để hùn cùng với đốc tác mua công ty Telmex rồi từ đó mở rộng đế chế viễn thông. Hãng America Movil của ông hiện giờ có 201 triệu khách hàng trải dài từ Brazil đến Mỹ.

Slim trao quyền điều hành công việc hàng ngày ở hãng cho ba người con trai và những đối tác kinh doanh thân cận, nhưng ông vẫn chứng tỏ là người cầm cương, chịu trách nhiệm chính mỗi khi xuất hiện cùng họ trước giới truyền thông.

Slim đã bắt đầu tham gia vào sự nghiệp chống đói nghèo, mù chữ và tình trạng y tế lạc hậu ở châu Mỹ Latinh; đẩy mạnh các dự án thể thao dành cho người nghèo. Tuy nhiên ông chưa từng đề cập đến những kế hoạch chuyển một phần tài sản của mình cho các quỹ từ thiện như Bill Gates hay Warren Buffett đã làm.

Slim nói rằng các doanh nhân làm nhiều điều tốt cho xã hội bằng cách tạo ra việc làm và sự thịnh vượng thông qua các khoản đầu tư của họ, chứ “không cần phải làm ông già Noel”.

Thanh Mai – VnExpress

Internet 2009 qua những con số

Ai cũng biết thế giới Internet giờ đây đã rất lớn nhưng nó lớn đến thế nào? Điều gì đã xảy ra trong thế giới ấy trong năm 2009?

Thông qua những con số tổng hợp từ rất nhiều công cụ, dịch vụ theo dõi môi trường web trong năm qua, bạn có thể tưởng tượng được phần nào diện mạo của thế giới Internet. Nhưng xin nói trước là có những con số rất dài và bạn hãy chuẩn bị tinh thần của sự “quá tải” thông tin.

Email

90.000 tỉ là số email đã được gửi đi trên toàn cầu trong năm 2009.

247 tỉ – số email trung bình trong một ngày

1,4 tỉ – số người sử dụng email trên thế giới

100 triệu – số người mới sử dụng email trong năm 2009 so với năm trước.

81% – tỉ lệ thư rác trong tổng số email của năm 2009.

92% – tỉ lệ đỉnh điểm của thư rác trong tổng email toàn cầu.

24% – tỉ lệ tăng trưởng của thư rác so với năm trước

200 tỉ – số thư rác trung bình được gửi mỗi ngày trên toàn cầu.

Website

234 triệu – số lượng website đang tồn tại trên khắp thế giới tính đến ngày 31-12-2009

47 triệu – số website mới ra đời trong năm 2009.

Máy chủ web

Máy chủ web

13,9% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Apache.

-22,1% (âm) – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ IIS.

35,0% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Google GFE.

384,4% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Nginx.

-72,4% – tỉ lệ tăng trưởng của số lượng website hoạt động trên máy chủ Lighttpd.

Tên miền

81,8 triệu tên miền .COM tính đến hết năm 2009

12,3 triệu tên miền .NET

7,8 triệu tên miền .ORG.

76,3 triệu tên miền cấp 1 quốc gia (ví dụ .VN, .UK, .DE…).

8% – tốc độ tăng trưởng tên miền so với năm 2008.

Người sử dụng Internet

1,73 tỉ  – số người sử dụng Internet toàn cầu (số liệu tính đến tháng 9-2009).

18% – tỉ lệ tăng trưởng của số người dùng Internet so với năm trước.

Trong đó:

– Châu Á có 738.257.230 người

– Châu Âu có 418.029.796 người

– Bắc Mỹ: 252.908.000 người

– Mỹ Latin – Caribê: 179.031.479 người

– Châu Phi: 67.371.700  người

– Trung Đông: 57.425.046 người

– Châu Đại Dương và Úc: 20.970.490 người

Internet trong từng lĩnh vực

Truyền thông xã hội – Social media

126 triệu – số blog đang tồn tại trên Internet

84% – tỉ lệ mạng xã hội có thành viên nữ đông hơn nam

27,3 triệu – số lượng tweet mỗi ngày (tính đến tháng 11-2009)

57% – người dùng Twitter là người Mỹ.

4,25 triệu – số người theo đuôi @aplusk (tài khoản của nam diễn viên người Mỹ Ashton Kutcher, tài khoản có số người theo đuôi lớn nhất trên Twitter).

350 triệu – số thành viên của Facebook

50% số người sử dụng Facebook đăng nhập ít nhất 1 laanf/ ngày.

500.000 – số ứng dụng đang hoạt động trên Facebook

Hình ảnh

4 tỉ bức ảnh đang được lưu trữ trên Flickr (dịch vụ lưu trữ và chia sẻ ảnh trực tuyến của Yahoo, số liệu tính đến tháng 10-2009).

2,5 tỉ – số bức ảnh được tải lên Facebook mỗi tháng.

30 tỉ – số bức ảnh được tải lên Facebook trung bình hằng năm.

Video

1 tỉ – tổng số lượt xem video mỗi ngày trên YouTube

12,2 tỉ – số đoạn video người dân Mỹ xem trên YouTube mỗi tháng (tính đến tháng 11-2009)

924 triệu – số video người dân Mỹ xem trên Hulu mỗi tháng (tính đến hết tháng 11-2009).

182 – số video trung bình một người dùng Internet tại Mỹ xem mỗi tháng.

82% người dùng Internet Mỹ xem video trực tuyến

39,4% – thị phần video trực tuyến của YouTube tại Mỹ

81,9% số video được nhúng trong các blog là của YouTube.

Trình duyệt web

Biểu đồ thị trường trình duyệt web

Phần mềm độc hại

148.000 – số máy tính “ma” ra đời mỗi ngày (bị sử dụng trong các mạng botnet, gửi thư rác…).

2,6 triệu – tổng số mã độc tồn tại trong đầu năm 2009 (virus, trojan, rootkit, malware…).

921.143 – Số mã độc mới được Symantec nhận diện trong quý 4-2009.

Theo Tuổi trẻ / ICTNews

Asterisk VOIP with Nokia E63 How-To

Getting the E63 connected to Asterisk was a bit trying at first, since the included VOIP client seems to be tailored to a Nokia VOIP solution. With some trial and error, then some googling, I was able to get it working, and now my E63 is not only a cellphone with uber connectivity options, but also doubles as an extension of my office PBX! What is most impressive about this setup is that the phone “knows” when it is at the office and automatically switches on the VOIP client and allows the phone to call or receive calls through the PBX, thereby saving valuable minutes while at the office.

Here’s how I got the NOKIA E63 to act as a VOIP client on my office PBX.

First, open the Menu -> Tools -> Settings -> Connection settings. In there, you will see an item that says “SIP Settings”

Once in the SIP settings, you’ll be able to enter the configuration options for your SIP extension on your PBX. First, create a SIP Profile and then enter the SIP account info in the new SIP profile.

The options one can enter here are:

  • Profile Name (specify whatever you wish)
  • Service Profile (should be IETF)
  • Default Access Point (I used the wifi access point in my office SSID iWay)
  • Public User Name (Here specify as ext@pbx.hostname) ie. 200@asterisk.iwayvietnam.com if 200 is your SIP extension account
  • Use Compression (set this to NO)
  • Registration (set to Always On)
  • Use Security (I selected NO)

The last 2 items are for entering the proxy and registrar servers (basically the account info and address of your PBX for both incoming and outgoing channels).

For the Proxy server submenu please enter the following information:

  • Proxy Server Address (this should be the FQDN or IP address of your PBX) in my example, it was asterisk.iwayvietnam.com
  • Realm (If you are using Asterisk as your PBX set this to the word “asterisk”)
  • User Name (set this to JUST your extension number, I used 200)
  • Password (this is case sensitive, enter exactly as it is in the Asterisk GUI manager for the SIP account)
  • Allow Loose Routing (Set this to YES)
  • Transport Type (set this to AUTO)
  • Port (make sure this says 5060)

Ok, now go back to the previous menu level and now select Registrar Server. Please enter your info similar to the folowing:

  • Registrar Server Address (again, this should be the FQDN or IP of your PBX) I used asterisk.iwayvietnam.com
  • Realm (again, just set this to “asterisk” no quotes)
  • User Name (ONLY your extension number)
  • Password (you know what this is by now….)
  • Transport Type (AUTO)
  • Port (5060)

Now back out of the menu to the previous level, then hit BACK again. If all went right, you should see status of that new SIP profile is “Registered”.

You’re almost done, just a couple more steps to complete your E63 VOIP configuration. Now go back to the Connection setup menu in the Settings menu. Look for an item called “Internet Tel.” and click on that to create a new Internet Telephone profile. It is here that you will select your default SIP profile and specify how it will connect. To begin, just select Options, then New Profile.

Once done, back out and go to the Menu -> Communication menu and then select Options, Settings…

For default Call type select “Internet Call”. Now exit all the menus. If your phone sees your wireless network
and your SIP extension account is active on the PBX, you should see this on your screen (note arrows) to indicate that your VOIP client is now ready to receive or make a call using your PBX instead of cellular minutes. Also, when you leave your wifi zone, the phone will automatically turn off and deactivate the VOIP client until you return within your wifi’s coverage zone.

Congratulations, if you see these two additional marks on your screen, you now have a working VOIP extension on your phone!

Enjoy and please comment below.

Phần mềm tự do nguồn mở (FOSS) – Ưu tiên số 1 trong chiến lược tăng tốc CNTT

Từ bài trình bày của Tiến sĩ Nguyễn Trọng …

Tại Hội thảo Hợp tác Phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ XIII do Bộ Thông tin và Truyền thông và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, dưới sự bảo trợ của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Công nghệ thông tin (CNTT) vừa diễn ra tại thành phố Bắc Ninh ngày 27/11/2009 vừa qua, Tiến sĩ Nguyễn Trọng, nguyên chủ tịch Hội tin Học Thành phố Hồ Chí Minh các khóa 2&3, nguyên Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Thế giới Vi tính – PCW VN, đã có một bài trình bày rất khoa học và ấn tượng với đầu đề: “Con đường hiện thực để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT trong khoảng 10 năm tới đây”. Nhiều vấn đề đã được đưa ra trong bài trình bày này, đặc biệt tập trung bàn về khía cạnh một nước mạnh về CNTT thì phải mạnh về những lĩnh vực nào theo những định nghĩa được thừa nhận trong thế giới CNTT toàn cầu.

Ông đã liệt kê ra 3 lĩnh vực chính mà một quốc gia có thể phấn đấu để trở thành một quốc gia mạnh toàn diện về CNTT là: Công nghiệp Thiết bị CNTT, Công nghiệp phần mềm CNTT và Công nghiệp dịch vụ CNTT (CNpDVCNTT).

Bằng những lý luận logic và khoa học, bằng những con số thống kê thuyết phục, ông đã chứng minh rằng Việt Nam hầu như không có khả năng trở thành một quốc gia mạnh về CNTT trong khoảng 10 năm tới đây, nếu không đi theo con đường phát triển công nghiệp dịch vụ CNTT.

CNpDVCNTT bao gồm các loại hình dịch vụ như sau:

  1. Làm thuê tạo ra các sản phẩm CNTT theo yêu cầu, trong đó phần quan trọng nhất là tạo ra các hệ thống công nghệ thông tin hoặc từng phần của hệ thống theo yêu cầu; Vận hành các hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông – CNTT&VT (Outsourcing & Operational Services)
  2. Bảo trì các hệ thống CNTT&VT (Maintenance Services)
  3. Triển khai cài đặt và tích hợp các hệ thống CNTT&VT (Implementation & Integration Services)
  4. Tư vấn và hoạch định các hệ thống CNTT&VT (Consulting & Planning Services)

Trong tình hình cụ thể của VN, chúng ta thường thêm vào 2 nhóm hoạt động thuộc phạm vi dịch vụ CNTT, đó là:

  1. Huấn luyện và đào tạo về CNTT&VT
  2. Xuất bản về CNTT&VT và tạo lập các CSDL số

Ông đã đưa ra những con số thống kê trên thị trường quốc tế năm 2008 về CNpDVCNTT như bảng bên dưới:

Loại hình dịch vụ CNTT

Giá trị tỷ USD

Tỷ lệ %

Triển khai cài đặt và Tích hợp các hệ thống CNTT &VT (Implementation & Integration Services)

266

33

Làm thuê các sản phẩm CNTT&VT theo yêu cầu và vận hành các hệ thống CNTT&VT (Outsourcing & Operational Services)

218

27

Tư vấn và thiết kế các hệ thống CNTT&VT (Consulting & Planning Services)

177

22

Bảo trì các hệ thống CNTT&VT (Maintenance Services)

145

18

Tổng cộng

806

100

Ông giải thích “một Quốc gia mạnh về công nghiệp dịch vụ CNTT phải chiếm được thị phần thế giới khoảng 0,5% tức cỡ 6,5-7 tỷ USD, trong khi hiện nay chúng ta đang ở mức là 0,4 tỷ USD. Đây là con số không quá cao. Có hệ thống chính sách tốt thì chúng ta có thể đạt và vượt con số này. Cần thấy rõ rằng ngành dịch vụ CNTT phát triển tốt không chỉ là nguồn xuất khẩu quan trọng mà còn là điều kiện cần để ứng dụng CNTT có hiệu quả”.

Toàn văn báo cáo của TS Nguyễn Trọng

Tới những thực tế của FOSS

Chúng ta đều biết rằng, FOSS đi cùng một mô hình kinh doanh mới, dựa vào việc cung cấp các dịch vụ đi kèm với các phần mềm FOSS đó. Mô hình kinh doanh này hoàn toàn khác với mô hình kinh doanh phần mềm truyền thống (dựa chủ yếu vào doanh thu của việc bán các giấy phép sử dụng phần mềm).

John “Maddog” Hall, Chủ tịch của tổ chức Linux International, trong chuyến viếng thăm Việt Nam gần đây nhất của ông theo lời mời của chính phủ Việt Nam vào cuối tháng 8/2009 vừa qua, nhân sự kiện WITFOR 2009, đã khuyến cáo Việt Nam “nên sử dụng các giải pháp và sản phẩm FOSS vì sự cân bằng trong cán cân thương mại của quốc gia mình với các nước đối tác bên ngoài, để hàng triệu tỷ đồng không bay khỏi nước mình thông qua việc trả tiền phí bản quyền cho các phần mềm sở hữu độc quyền, mà hầu hết chúng sẽ được đầu tư trở lại cho những giải pháp và sản phẩm FOSS phù hợp với tiếng mẹ đẻ và cách làm việc của quốc gia mình, theo các nhu cầu thực tế của chính phủ, người dân và nhất là các doanh nghiệp công nghệ thông tin và phần mềm của nước mình thông qua các dịch vụ như tư vấn, đào tạo, cấp chứng chỉ, tích hợp, tùy biến, cài đặt, quản trị hệ thống, bản địa hóa, … Không ai có thể đáp ứng được tốt nhất những nhu cầu cấp thiết của người bản địa bằng chính người bản địa. Theo ông thì phần tiền mà bạn kiếm được từ hỗ trợ FOSS sẽ nhiều hơn so với kinh doanh phần mềm sở hữu độc quyền.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả các dịch vụ mà FOSS cung cấp theo mô hình kinh doanh mang tính tự nhiên như bản chất của nó, được liệt kê ở đây, là nằm trọn trong các dịch vụ được thế giới công nhận đối với CNTT.

Tháng 04/2009 vừa qua, Michael Tiemann, Phó Chủ tịch của hãng Red Hat, đồng thời là Chủ tịch của tổ chức Sáng kiến Nguồn mở OSI (nơi đưa ra định nghĩa về phần mềm nguồn mở và là nơi phê chuẩn tất cả các loại giấy phép của phần mềm nguồn mở), khi giải thích về tính ưu việt của mô hình phát triển FOSS đã khẳng định rằng mô hình này là mô hình duy nhất có thể trụ vững được trong thời đại ngày nay vì nó sẽ giúp tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí cho việc phát triển các phần mềm, tương đương với việc tiết kiệm hàng ngàn tỷ USD phát triển phần mềm mỗi năm trên thế giới.

Câu chuyện thực tế của thế giới FOSS 2 năm trở lại đây đã chứng minh được sức mạnh khổng lồ của nó, một khi cần được thể hiện một cách cụ thể ra bằng số tiền được định giá trên thị trường và/hoặc sức lan tỏa của nó trong một đơn vị thời gian. Các công ty nguồn mở như Google, Yahoo, Red Hat, Canonical, cùng với hàng loạt các công ty CNTT&VT trên thế giới, kinh doanh theo mô hình mới của nguồn mở dựa trên việc cung cấp các dịch vụ, mới thực sự là những ví dụ điển hình và đích thực của sự tăng tốc thần kỳ trong nền CNTT thế giới, mà mấu chốt của nó nằm ở việc giải phóng những khả năng vô biên của trí tuệ con người cho mục tiêu đổi mới sáng tạo trong CNTT&VT. Đó chính là một bài học mà chiến lược tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về CNTT nên lĩnh hội và đưa vào trong chiến lược và thực tiễn cuộc sống tại Việt Nam một cách nhanh nhất có thể được, trên một phạm vi rộng lớn nhất có thể được.

Kết luận

Cả về lý thuyết, các con số thống kê, và thực tiễn triển khai trên thế giới đều chỉ ra rằng, đối với Việt Nam, dịch vụ CNTT là chìa khóa để tăng tốc trong CNTT, mà mô hình kinh doanh và phát triển của FOSS là sự thể hiện gần như đầy đủ và trọn vẹn nhất tất cả các loại hình dịch vụ được thế giới thừa nhận đó.

FOSS phải là ưu tiên số 1 trong sự tăng tốc để trở thành nước mạnh về CNTT Việt Nam!

Trần Lê

PS: Bài được đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 12/2009, trang 64-65.